Ngôn ngữ

Tìm kiếm

11/9/2010   
Một số chuyển biến của làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay qua trường hợp làng Phú Đô (Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội)  
(8/7/2009)

I. MỞ ĐẦU

1. Làng nghề, phố nghề truyền thống là một trong những nét văn hóa đặc sắc của Hà Nội, nó đã và đang là những địa điểm du lịch văn hóa hấp dẫn, thu hút không ít du khách trong và ngoài nước. Rất nhiều làng nghề thủ công ở Hà Nội có lịch sử phát triển hàng trăm, hàng nghìn năm như tơ lụa Vạn Phúc (thành phố Hà Đông, Hà Nội), mây tre đan Phú Vinh (huyện Thanh Oai, Hà Nội) hơn 700 năm, gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) có lịch sử gần 500 năm… trong đó lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người dân thủ đô và cũng là nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của người Việt Nam. Nghiên cứu và bảo tồn giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tại các làng nghề phố nghề Hà Nội là việc làm cần thiết góp phần làm đa dạng và phong phú hơn diện mạo của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội nghìn năm văn hiến.

Làng nghề Hà Nội đa dạng và phong phú, nhất khi địa giới hành chính của thành phố Hà Nội được mở rộng, số lượng làng nghề truyền thống của thủ đô tăng một cách nhanh chóng. Hà Nội là nơi có mật độ các làng nghề, phố nghề đông nhất cả nước với 1.264 trên 2.790 làng nghề chia thành 53 nhóm nghề với khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau, trong đó có nhiều sản phẩm truyền thống. Các làng nghề truyền thống ở Hà Nội đã thu hút hàng trăm lao động chính, ngoài ra còn tạo việc làm cho hàng ngàn lao động phụ lúc nông nhàn. Từ khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhiều nghề thủ công và làng nghề truyền thống Hà Nội đứng trước cơ hội mở rộng, phát triển quy mô sản xuất chiếm lĩnh thị trường trong nước và lan rộng ra nhiều thị trường thế giới. Những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng truyền thống lên tới hàng triệu USD/năm, vai trò của làng nghề truyền thống ngày càng được khẳng định góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thủ đô và trong nước ngày càng phát triển.

Bên cạnh những thuận lợi, làng nghề, phố nghề truyền thống Hà Nội đang phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn như: nghề truyền thống dần bị mai một do gặp phải nhiều khó khăn, thử thách; sự phát triển nghề lại đi liền với vấn nạn ô nhiễm môi trường, trong đó đặc biệt là ô nhiễm không khí, nguồn nước và rác thải..vv. Đặc biệt, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, các làng nghề đang lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu sản xuất, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp. Theo thống kê mới nhất, 60% số doanh nghiệp làng nghề đang hoạt động cầm cự, 20% số doanh nghiệp "thoi thóp", nhiều cơ sở sản xuất đang đứng bên bờ phá sản. Nhiều làng nghề Hà Nội cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Những khó khăn đó đã đặt ra yêu cầu phải tìm được nguyên nhân và đưa ra các giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân mà vẫn đảm bảo được sự bền vững của làng nghề, đồng thời đòi hỏi những biện pháp giải cứu cho làng nghề trước hết là để tháo gỡ khó khăn về kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động nhất là khi nhiều người mất việc ở thành phố, khu công nghiệp trở về làng chưa có công ăn việc làm. Việc giải cứu còn có ý nghĩa sâu xa là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc của các làng nghề (Làng nghề truyền thống, từ góc nhìn văn hóa,  http://www.vietnamgateway.org). Bởi vậy, nghiên cứu về làng nghề truyền thống là một việc làm cần thiết và hữu ích, để từ đó đưa ra những giải pháp định hướng trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề.

Nhiều làng nghề, phố nghề Hà Nội đang ngày một thay đổi trước tác động của đô thị hóa, trong khi các sản phẩm truyền thống của làng nghề đang thay đổi theo hướng tích cực về mẫu mã và chất lượng cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước thì văn hóa làng nghề ngày càng mai một trước áp lực hội nhập. Để có được sản phẩm có tính thương mại cao mà vẫn không làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống là một việc làm phụ thuộc và tay nghề của người lao động cũng như những yếu tố về cơ sở vật chất, nguồn vốn đầu tư… Do đó, việc nghiên cứu làng nghề trong quá trình đô thị hóa là rất cần thiết. Làm thế nào phát triển sản xuất, đưa các sản phẩm truyền thống Việt vươn xa, đang là bài toán khó với người dân các làng nghề.

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Một số chuyển biến của làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay qua trường hợp làng Phú Đô (Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội).

2. Nghiên cứu về quá trình đô thị hóa của các làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay là một đề tài khá mới mẻ, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở những nhận định chung nhất của cá nhân các nhà báo, nhà nghiên cứu.

Về quá trình đô thị hóa, giáo sư Đặng Vũ Khiêu nhận xét: Quá trình đô thị hóa nông thôn đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hóa đa ngành nghề. Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán thôn quê Việt Nam và những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.” (Đô thị hóa nông thôn thúc đẩy phát triển xã hội, http://www.va21.org).

Bàn tới thực trạng làng nghề, Hoàng Văn Thức, phó trưởng phòng Thống kê Nông nghiệp, cục Thống kê Việt Nam đã có báo cáo rất rõ về “Thực trạng và giải pháp phát triển nghề, làng nghề truyền thống của Thủ đô giai đoạn 2001-2010”. Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu đối với những người thực hiện đề tài này.

Như vậy, bài báo cáo về “Một số chuyển biến của làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu trường hợp làng Phú Đô” mong muốn đóng góp một cách nhìn vừa cụ thể vừa bao quát về các làng nghề đó, đồng thời đưa ra những nhận định khách quan về xu hướng phát triển của làng nghề truyền thống trong tương lai cũng như phương hướng cho làng nghề trong quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.

3. Với đề tài “Một số chuyển biến của làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu trường hợp làng Phú Đô (Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội)”, phạm vi nghiên cứu của báo cáo gồm có:

Về không gian: báo cáo hướng đến tìm hiểu các làng nghề thuộc Hà Nội, để chúng tôi có cái nhìn bao quát nhất, toàn diện nhất cũng như đưa ra các nhận định phù hợp nhất cho sự phát triển của nghề và làng nghề truyền thống. Thông qua việc nghiên cứu về quá trình đô thị hóa của làng bún Phú Đô (xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội), chúng tôi cũng đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống.

Về thời gian: đề tài tập trung tìm hiểu sự chuyển biến của làng nghề trong giai đoạn hiện nay khi quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh chóng, góp phần tạo nên diện mạo mới cho làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội.

4. Trong quá trình tiến hành nghiên cứu và thực hiện báo cáo, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp như sau:

- Phương pháp thống kê: Bằng phương pháp này, chúng tôi tiến hành thống kê số lượng các làng nghề hiện có trên địa bàn Hà Nội để tăng tính chuyên sâu trong quá trình nghiên cứu đề tài.

- Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong bài báo cáo, giúp chúng tôi xử lí các số liệu liên quan tới làng nghề cũng như các sản phẩm truyền thống nhằm tăng tính thuyết phục cho bài báo cáo.

- Phương pháp so sánh: Là phương pháp được sử dụng để chúng tôi làm nổi bật nét tương đồng và sự khác biệt giữa hai làng nghề truyền thống làng cốm Vòng và làng bún Phú Đô.

- Phương pháp tổng hợp: Việc tổng hợp các dữ kiện, tài liệu sau khi đã phân tích kỹ lưỡng là thao tác quan trong trong bài báo cáo này. Từ đó chúng tôi rút ra những kết luận cuối cùng sau một chặng đường tiến hành nghiên cứu.

5. Đề tài hoàn thành sẽ có một số đóng góp sau:

Thứ nhất: bước đầu tập hợp tư liệu về các làng nghề truyền thống ở Hà Nội ở nhiều khía cạnh: lịch sử hình thành, các sản phẩm truyền thống và cả những thay đổi của làng nghề đó trong giai đoạn mới. Qua đó nêu lên một số ưu điểm của làng nghề truyền thống, góp phần làm phong phú nền văn hóa dân tộc và thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển. Đồng thời chỉ ra một số hạn chế mà các làng nghề hiện nay gặp phải qua trường hợp làng nghề thủ công Phú Đô, Từ Liêm, Hà Nội.

 Thứ hai: nêu một số biện pháp nhằm phát huy tiềm năng của làng nghề, đảm bảo giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc và giúp cho làng nghề truyền thống phát triển ngày càng bền vững.

Thứ ba: đặt cơ sở lí thuyết cho việc tiếp tục tìm hiểu về làng nghề và nghề thủ công truyền thống ở Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung trong những năm tiếp theo nhằm mục đích phát triển của làng nghề, giúp các làng nghề có động lực để tiếp tục phát huy sản phẩm truyền thống của mình một cách bền vững hơn.

 

B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG HÀ NỘI

1. Khái niệm “làng nghề”, đặc điểm và phân loại làng nghề truyền thống Hà Nội

1.1. Khái niệm “làng nghề truyền thống”

Để hiểu thế nào là làng nghề truyền thống, trước hết cần phải nắm rõ khái niệm về nghề truyền thống: Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Thứ hai tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Thứ ba phải gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.” [2,2]

Sự phát triển của nghề truyền thống là nhân tố trực tiếp và chủ yếu nhất đưa tới sự xuất hiện của các làng nghề: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên mộtđịa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề; Thứ hai phải có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm; Thứ ba phải chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước.” [2, 2].

Từ hai khái niệm trên ta thấy “Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm trên. Tuy nhiên đối với những làng chưa đạt tiêu chí thứ nhất và thứ hai của làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí trên thì vẫn được coi là làng nghề truyền thống”. [2, 2].

Ngày nay, đô thị hóa là là một trong những quá trình đặc biệt, góp phần làm biến đổi diện mạo của các làng nghề truyền thống. Đó là khái niệm chỉ sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa. Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mỹ hay Úc) thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam hay Trung Quốc) (khoảng ~30%).

Với những hệ thống khái niệm như trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của làng nghề truyền thống Hà Nội, từ đó đánh giá vai trò, vị trí của làng nghề truyền thống trong nền văn hóa Việt Nam.

1.2. Đặc điểm nghề, làng nghề truyền thống Hà Nội

* Về mặt kỹ thuật, công nghệ: Trước kia kỹ thuật thủ công hầu hết mang tính truyền thống của một vùng nào đó hoặc bí quyết riêng của từng dòng họ. Nhưng ngày nay khoa học kĩ thuật ngày một phát triển nên kỹ thuật ngày một đổi mới và phát triển hơn, khiến cho quá trìnhq sản xuất ngày một nâng cao và đạt hiệu quả cao. Tuy sử dụng công nghệ khoa học mang hiệu quả cao nhưng vẫn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa công nghệ truyền thống là đặc trưng cơ bản nhất. Vì vậy mà sản phẩm tạo ra không mất đi chất lượng vốn có.

* Về sản phẩm: Mỗi sản phẩm đều mang những đặc điểm riêng nhất không giống nhau. Sản phẩm của mỗi vùng, mỗi làng đều có những phương thức sản xuất riêng và đặc trưng của từng vùng. Cho nên ta có thể phân biệt sản phẩm của từng vùng. Một đặc điểm quan trọng là các sản phẩm là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với khả năng sáng tạo của nghệ nhân, vì thế tính nghệ thuật được thể hiện rất cao trong từng sản phẩm. Những sản phẩm đó mang những tâm tư tình cảm của con người, con người thổi hồn vào những sản phẩm đó. Chẳng hạn như sản phẩm gốm sứ Bát Tràng do chính bàn tay khéo léo của những người thợ thủ công tạo ra, mỗi người đều mang trong mình những tính cách riêng nên những nét vẽ trên mỗi sản phẩm không bao giờ giống nhau, tạo nên những sản phẩm đa dạng. Qua đây có thể thấy đặc trưng của sản phẩm truyền thống mang tính đơn lẻ.

* Về nguồn lao động: Như trên đã nói, phương thức sản xuất chính trong các làng nghề là phương pháp thủ công thô sơ nên sản phẩm được tạo ra chính là do bàn tay con người. Đối với các nghề, làng nghề truyền thống thì vai trò của những nghệ nhân tạo ra sản phẩm rất quan trọng. Họ là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm mà họ còn lưu giữ và truyền dạy nghề từ thế hệ này qua thế hệ khác khiến cho các phương thức không bị mất đi qua thời gian và được lưu giữ cho đến tận ngày hôm nay.

* Về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước kia mục tiêu của sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu trao đổi hàng hoá tại chỗ (gia đình, làng xóm lân cận hoặc trong dòng họ…). Hiện nay, việc trao đổi hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá được chú trọng nên thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng, sản phẩm ngày một đa dạng và phong phú hơn đáp ứng thị yếu người tiêu dùng. Một số mặt hàng đã thu hút được thị trường nước ngoài như: đồ gốm, đồ gỗ chạm khắc, sơn mài, mây tre đan...

* Về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh: Hình thức phổ biến nhất từ trước đến nay là hộ gia đình. Ngày nay bên cạnh hình thức này đã xuất hiện một số hình thức khác như hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ti…

1.3. Phân loại các nhóm nghề

* Nhóm nghề gốm sứ: Tiêu biểu là làng nghề gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) – một làng nghề có lịch sử lâu đời khoảng 600 năm hình thành và phát triển. Hiện nay gốm sứ của làng rất phát triển không những nổi tiếng trong thị trường Việt Nam mà còn đứng vững trên thị trường thế giới như Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan... Đây là sản phẩm xuất khẩu mang lại lợi ích kinh tế cao. “Hiện tại, thu nhập bình quân của các hộ thấp trong làng khoảng 15-20 triệu/năm, của các hộ trung bình là 40-50 triệu đồng/năm, các hộ có thu nhập cao đạt hàng trăm triệu đồng/năm...” [2.4]. Số lượng người tham gia sản xuất ngày một tăng, các cơ sở sản xuất gốm này một nhiều. Điều này cho thấy làng nghề đã góp phần thay đổi cuộc sống cho người dân ngày một nâng cao.

* Nhóm nghề gỗ: Tập trung chủ yếu ở Thiết Úng, Liên Hà, Dục Tú, Thụy Lâm, Việt Hùng, Bắc Hồng thuộc xã Vân Hà huyện Đông Anh. Đây là nghề thủ công truyền thống đã xuất hiện từ lâu đời, chủ yếu là nghề chạm khắc gỗ, đồ gỗ phun sơn, dân dụng.

Xã Vân Hà có tới 80% người dân biết làm nghề chạm khắc gỗ. Mặt hàng chủ yếu là các loại giường tủ, bàn ghế, bàn thờ, con giống, tranh, hoành phi câu đối... , có khả năng tiêu thụ lớn trên thị trường trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc, Đài Loan, Đông Âu. Hàng tháng, ngoài thu nhập chính, người dân còn có thêm nguồn thu nhập phụ từ nghề truyền thống bình quân khoảng 500 nghìn đến 1,2 triệu/tháng/người. [2, 10]

Nghề sơn mài và sản xuất đồ gỗ phun sơn chủ yếu ở xã Liên Hà huyện Đông Anh. Sản phẩm chính là giường tủ, bàn ghế, kệ ti vi... thị trường tiêu thụ chủ yếu là các tỉnh phía Bắc và miền Trung.

* Nhóm nghề sản xuất, chế biến lương thực, thực phẩm: Bao gồm: làng nghề bún Phú Đô xã Mễ Trì và bánh mứt kẹo Xuân Đỉnh xã Xuân Đỉnh thuộc huyện Từ Liêm; Nghề sản xuất miến dong, bánh đa xã Hữu Hoà, bánh chưng, bánh khúc thôn Tranh Khúc xã Triều Khúc huyện Thanh Trì; Nghề làm cốm phường Dịch Vọng Hậu quận Cầu Giấy; Nghề làm bánh cuốn phường Thanh Trì, làm bún thôn Tứ Kỳ phường Hoàng Liệt, làm đậu phụ phường Mai Động quận Hoàng Mai. Trong đó phải kể đến làng nghề bún Phú Đô xã Mễ Trì với lực lượng lao động đông đảo nên mỗi ngày sản xuất khoảng 50 tấn bún.

* Các nhóm nghề khác: bao gồm nghề mây tre đan thôn Xuân Dương xã Kim Lũ huyện Sóc Sơn, xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì; nghề may xã Cổ Nhuế; nghề rèn xã Xuân Phương huyện Từ Liêm; nghề dệt, xe tơ sợi ở xã Tân Triều huyện Thanh Trì; nghề làm vàng mã phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy; nghề kim hoàn phường Định Công, quận Hoàng Mai. 

- Nghề rèn ở xã Xuân Phương (Từ Liêm – Hà Nội) là nghề có từ lâu đời, sản phẩm chủ yếu là đồ gia dụng và nông cụ.

- Nghề dệt, xe tơ sợi ở xã Tân Triều (huyện Thanh Trì – Hà Nội) đã có từ lâu đời, sản phẩm chủ yếu là vải công nghiệp, dây giày, dây chun, dây băng, huân huy chương, chỉ khâu, chỉ thêu, sợi vải.

   - Nghề sản xuất dược liệu ở Ninh Hiệp huyện Gia Lâm với loại hình sản phẩm đặc thù là chế biến dược liệu. Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm dược liệu rất lớn, riêng ở Hà Nội đã có một dãy phố tiêu thụ sản phẩm của làng đó là dãy phố Lãn Ông.

- Nghề may da ở xã Kiêu Kỵ huyện Gia Lâm được phát triển mạnh vào những năm gần đây, sản phẩm da, giả da Kiêu Kỵ đã tạo được uy tín ở thị trường trong nước và bước đầu có xuất khẩu.

- Nghề thu gom, tái chế phế liệu ở xã Tân Triều huyện Thanh Trì. Sản phẩm chính là nhựa mềm, nhựa cứng, mắc áo dây đồng, dây nhôm, chổi lông, tóc giả…

- Nghề tre trúc ở thôn Thu Thuỷ xã Xuân Thu huyện Sóc Sơn đã có cách đây trên 300 năm với những sản phẩm như: nhà, giường, bàn, ghế, chõng… sản phẩm chủ yếu là nhà tre, bàn ghế tre, giường tủ tre và các đồ trang trí nội thất bằng mây - tre đang đáp ứng các nhu cầu trong và ngoài nước.

- Nghề sản xuất sản phẩm vàng mã ở Vạn Phúc huyện Thanh Trì là một làng nghề làm vàng mã nổi tiếng từ xưa. Hiện nay, sản phẩm của làng được tiêu thụ khá mạnh trên thị trường Hà Nội và một số thị trường các tỉnh lân cận.

2. Lịch sử hình thành và vai trò của các làng nghề truyền thống Hà Nội

Vào thế kỉ X, khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, nơi đây đã trở dần thành vùng dân cư tập trung gồm những làng xóm nông nghiệp, phố phường thủ công, thương nghiệp, những bến chợ tấp nập, đông vui. Nguyên nhân là do nhu cầu của xã hội, do vị trí thuận tiện trong việc giao thương nên các thợ thủ công ở các nơi đều đổ về đây làm ăn khiến cho việc xuất hiện phường thủ công và phố xá ngày một nhiều.

2.1. Nguồn gốc chính hình thành nên làng nghề

Thứ nhất, là những nghề có sẵn ở các làng mạc, thôn xóm, từ trước khi Thăng Long trở thành kinh đô của cả nước, ví dụ như làng cốm Vòng ( Cầu Giấy – Hà Nội): Theo truyền thuyết, vào một mùa thu cách đây cả ngàn năm, khi lúa bắt đầu uốn câu thì trời đổ mưa to, gió lớn, đê vỡ, ruộng lúa cao nhất đồng cũng chìm nghỉm. người làng Vòng đem những bông lúa còn non về rang khô ăn dần chống đói. Sau nhiều công đoạn chế biến, cốm làng Vòng đã được ra đời. (Trích Hà Nội – Cốm làng Vòng http://maxreading.com).

Thứ hai, do những người thợ thủ công giỏi ở các nơi giỏi một nghề nào đó và họ mang nghề đó lên kinh thành làm ăn, tranh đua rất gay gắt, nên xuất hiện nhiều phường làng nghề khác nhau mang trong mình những nét riêng biệt và độc đáo, ví dụ như làng lụa Vạn Phúc (thành phố Hà Đông – Hà Nội): Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt lụa khéo léo về làng dâu làng Vạn Phúc. Bà đã truyền nghề lại cho dân làng và sau khi mất và sau khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng (Làng lụa Vạn Phúc, http://vi.wikipedia.org.).

Thứ ba, do cư dân sinh sống trung quanh ven đô và ngoại thành họ tìm thấy ở trong nội thành những nơi tiêu thụ sản phẩm lý tưởng, nên xung quanh Hà Nội dần dần mọc lên các làng nghề chuyên kinh doanh đặc sản như: đào Nhật Tân (quận Tây Hồ - Hà Nội), quất Nghi Tàm (quận Tây Hồ - Hà Nội), làng hoa Ngọc Hà (quận Ba Đình – Hà Nội), làng rau Kẻ Láng (quận Đống Đa)...

Thứ tư, do có sự giao lưu kinh tế, chính trị, văn hoá nên đã xuất hiện một số nghề mới có nguồn gốc nước ngoài mà ta học được hoặc trong các làng thuần nông, các làng đang trong quá trình đô thị hoá bị mất đất tạo thành làng nghề mới. Ví dụ như, vào thế kỉ XVII, Vũ Uy đi sứ Trung Hoa học được nghề thêu về dạy cho dân làng Triều Khúc (huyện Thanh Oai – Hà Nội)... Đây chính là bốn nguồn gốc cơ bản hình thành lên làng nghề truyền thống Thăng Long – Đông Đô - Hà Nội.

2.2. Vai trò của làng nghề truyền thống Hà Nội

 Thứ nhất, làng nghề phát triển đã giải quyết vấn đề việc làm đồng thời góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, ví dụ như làng làm lược, đồ mỹ nghệ thủ công truyền thống Thụy Ứng (huyện Thường Tín, Hà Nội), đã có hơn 35% số hộ giàu có, có thu nhập cao và ổn định, hơn 60% hộ có đời sống khá.

Thứ hai, làng nghề phát triển góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

Thứ ba, sự phát triển của làng nghề còn góp phần lưu giữ và bảo vệ nét văn hoá truyền thống của dân tộc. Hiện nay, một số làng nghề đã trở thành những điểm “du lịch làng nghề” nổi tiếng như làng nghề gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội)... đang phát triển mạnh và trở thành cầu nối văn hoá giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên, làng nghề phát triển cũng tồn tại những mặt trái đó là: tình trạng ô nhiễm môi trường do mặt bằng sản xuất nhỏ, chật hẹp, phải đan xen trong khu dân cư sinh sống, như làng bún Phú Đô (huyện Từ Liêm – Hà Nội), Bát Tràng (huyện Gia Lâm – Hà Nội), Kiêu Kỵ (huyện Gia Lâm – Hà Nội)...

II. MỘT SỐ CHUYỂN BIẾN CỦA LÀNG BÚN PHÚ ĐÔ HIỆN NAY

1. Vài nét khái quát về làng bún Phú Đô

1.1. Vị trí và dân cư

 Phú Đô là một làng thuộc xã Mễ Trì – huyện Từ Liêm – Hà Nội. Làng ở cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km về phía Tây Nam. Phía Bắc giáp xã Mỹ Đình. Phía Nam giáp đường cao tốc Láng - Hoà Lạc. Phía Đông giáp thôn Mễ Trì Thượng (thuộc xã Mễ Trì – Hà Nội). Phía Tây giáp sông Nhuệ.

Làng bún Phú Đô đã có từ lâu đời. Tổng diện tích tự nhiên của làng nghề là 258.5 ha, trong đó đất nông nghiệp là 164,6 ha. Theo thống kê năm 1999, cả làng có 1113 hộ với 5111 nhân khẩu, trong số đó có 700 hộ với 1600 lao động hành nghề làm bún. Hàng năm Phú Đô sản xuất ra khoảng 5000 tấn bún-chiếm khoảng 50% thị trường Hà Nội. (Phú Đô (huyện Từ Liêm) - Làng nghề truyền thống làm bún, http://congthuonghn.gov.vn)

1.2. Lịch sử hình thành làng nghề

Tục truyền rằng, vào thời Hậu Lê, sau khi chiến thắng quân Minh một bộ phận tướng lĩnh được nhà vua ban lộc, đã về “cắm đô” dựng trại làm lễ ăn mừng ở một vùng gò đồi hoang vu ngập nước, lập nên xóm Kẻ Quách. Theo truyền thuyết, tại đây, họ sống trông vào cây lúa. Vùng này nước ngập quanh năm bốn mùa, người nông dân chẳng thể cấy cày. Ngày đó, có cây đa cổ thụ cỡ hàng chục người ôm mới xuể. Một bộ phận “ngụ binh ư nông” sống nhờ vào cây đa này. Cây đa thân không cao, xung quanh gốc hình thành một cái “mâm” rộng, có bậc lên xuống dễ dàng. Các bậc cao niên thường ngồi quây tròn quanh “mâm”, bên ấm trà nóng bàn chuyện làm ăn. Lúc thường, trẻ nhỏ hay trèo leo đùa nghịch. Rồi về sau, cuộc sống thêm bức bối đói nghèo, dân sinh làm càn, vác dao, búa đi đẽo vỏ, chặt trụi cành đa lấy củi bán kiếm sống qua ngày.

Cho tới năm 1947 thì cây đa này chết. Vụ mùa thất bát. Nhiều người phải dời làng, lang bạt kỳ hồ. Trong làng bắt đầu có nghề hàng xáo. Nhưng nghề này chẳng trụ được bao lâu. Dân lại xoay sang nghề làm các loại bánh gia công, rồi cũng không xong. Một ngày kia, có một cụ già sau thời gian phiêu bạt đã mang về làng nghề làm bún. Thời bấy giờ, nghề làm bún còn rất mới mẻ. Mọi công việc đều trông vào đôi tay, đôi chân, đôi vai trần khó nhọc. Dụng cụ đồ nghề phần lớn được làm bằng đất nung. Sợi bún khi làm ra thường ngả màu nâu đục, nhỏ bằng cái tăm gọi là bún đồng hến (khoanh nhỏ bằng cái hến), bán theo mớ chục một, lót bằng lá chuối. Người làm bún lấy công làm lãi. Thóc đong về đem xay, giã lấy cám nuôi lợn, lấy trấu làm chất đốt, làm phân bón ruộng; gạo làm  ra bún đổi lấy gạo, để rồi lại làm bún… Cứ như thế người dân duy trì cuộc sống. Bún đồng hến phát triển, được nâng cấp dần, qua những  tên gọi khác nhau: bún cách, bún dài đồng bừa, bún hình hoa (bún được xếp thành hình hoa). Bún hình hoa còn để lại những dấu ấn mang đậm phong tục địa phương. Vào ngày lễ, ngày tết, trước khi cưới vợ, các chàng trai phải có một lễ được làm bởi những sợi bún hình hoa (gọi là lễ sếu) mang đến làm lỡi (lễ) chúc sức khỏe bố mẹ vợ tương lai. Sau hòa bình lập lại năm 1954, một loại bún mới ra đời, đó là bún rối - bún Phú Đô ngày nay. Và cùng với thời gian, với nghề, xóm Kẻ Quách trở thành làng Hương Đô, rồi Hồng Đô và sau cùng là Phú Đô bây giờ.

1.3. Vài nét về sản phẩm truyền thống

Đất Hà Thành từ lâu đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống với nhiều sản phẩm độc đáo. Nhắc đến làng nghề làm bún, chúng ta phải kể đến "làng bún Phú Đô".

Bún Phú Đô được làm khá cầu kì. Nguyên  liệu chính để làm bún là gạo với nước. Công đoạn quan trọng trong quá trình làm bún đó là chọn gạo, ngâm bột và đánh hồ. Chọn gạo là khâu quan trọng nhất. Không phải loại gạo nào cũng có thể làm bún được. Xưa kia, người Phú Đô chỉ dùng duy nhất thứ gạo tám thơm do chính họ làm ra. Nhưng sau này, gạo tám thơm ít được trồng, người dân Phú Đô phải thử nghiệm tìm tòi những loại gạo mới thay thế. Những loại gạo chủ yếu được làm hiện nay là gạo 203, gạo X1, gạo 561 và NN8. Và tuỳ theo kinh nghiệm của từng người, họ sẽ chọn loại gạo nào thích hợp nhất và định lượng để trộn gạo cũng khác nhau. Gạo phải được vo nhiều lần, sau đó đem ngâm, tới khi thấy hạt gạo trắng muốt mới vớt ra. Tiếp đó, cho gạo vào máy xay thành bột. Bột này lại tiếp tục được rót vào thùng ngâm. Sau đó đưa gạo đã ngâm vào máy xay nhuyễn cùng với nước để tạo thành bột gạo dẻo, nhão. Bột lại được ủ và chắt bỏ nước chua, rồi đưa lên bàn ép, xắt thành quả bột to cỡ bắp chân người lớn. Các quả bột lại tiếp tục được nhào, trộn trong nước sạch thành dung dịch lỏng rồi đưa qua màn lọc sạch sạn, bụi tấm để tạo thành tinh bột gạo.

Tinh bột gạo được cho vào khuôn bún. Khuôn bún thường làm bằng chất liệu dạng ống dài, phía đầu khuôn có một miếng kim loại đục các lỗ tròn. Công đoạn vắt bún thường được thực hiện bằng tay hoặc dùng cánh tay đòn để nén bột trong khuôn qua các lỗ. Bột chảy đều qua các lỗ khi khuôn bị vặn, nén, tạo thành sợi bún, rơi xuống nồi nước sôi đặt sẵn dưới khuôn. Sợi bún được luộc trong nồi nước sôi khoảng vài ba phút sẽ chín, và được vớt sang tráng nhanh trong nồi nước sạch, nguội để sợi bún không bị bết dính vào nhau.

Cuối cùng là công đoạn vớt bún trong nồi nước tráng và dùng tay vắt thành con bún, lá bún, hoặc bún rối. Bún thành phẩm được đặt trên các thúng tre có lót sẵn lá chuối, hong khô và ủ trước khi đem ra chợ bán.

Hiện cả làng có trên 60% số hộ làm bún thường xuyên. Số không thường xuyên, chủ yếu làm vào mùa nóng nhưng cũng sản xuất với số lượng đáng kể. Nếu tính bình quân 1 kg gạo (loại ngon) cho 2, 3 kg bún thì trung bình mỗi hộ sản xuất 30 kg gạo/ngày; có khoảng 10% số hộ sản xuất từ 80 - 100 kg gạo/ngày (Sợi bún Phú Đô, http:// www.hanôimơi.com.vn ).

Bún Phú Đô được người dân mang ra chợ bán, chủ yếu trên địa bàn Hà Nội, Hà Tây cũ và các vùng lân cận khác.

Công cụ để làm bún gồm máy ép bún, máy xay bột, máy vo gạo, máy quay hồ… Nghề làm bún nhìn chung là khá vất vả, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thu nhập không cao lắm nhưng rất đều.

2. Một vài biến chuyển của làng nghề bún Phú Đô giai đoạn hiện nay

2.1. Sản phẩm

Bún vẫn là sản phẩm chủ yếu của làng. Tuy nhiên,sản phẩm này trong quá trình đô thị hoá hiện nay đã có nhiều thay đổi về nguyên liệu cũng như chất lượng.

* Về nguyên liệu làm bún: Cũng như trước kia nguyên liệu chính để làm bún là gạo. Đó là thứ gạo tám thơm mà dân làng trồng được. Đây là loại gạo hạt nhỏ, dài, thổi rất mau chín, màu trắng xanh, dẻo, mùi thơm ngào ngạt, ăn mau tiêu và hàm lượng chất bổ cao hơn các loại khác rất nhiều.

Tuy nhiên, ngày nay, do quá trình đô thị hoá, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, gạo tám thơm ít được trồng, vì vậy người dân Phú Đô đã tìm tòi và sử dung các loại gạo khác thay thế. Những loại gạo chủ yếu được làm hiện nay là gạo 203, gạo X1, gạo 561 và NN8. Và tuỳ theo kinh nghiệm của từng người, họ sẽ chọn loại gạo nào thích hợp nhất và định lượng để trộn gạo cũng khác nhau.

Về chất lượng: Nếu như trước kia 1kg bún làm được 2-3kg bún thì bây giờ với cùng một lượng gạo như thế người ta có thể làm ra được số lượng bún nhiều hơn.

Hơn nữa, qui trình làm bún chưa đảm bảo vệ sinh, như việc làm bún bên cạnh chuồng lợn, hay bún làm xong được đặt dưới những cái khay cáu bẩn…

Bên cạnh sản phẩm chính là bún, trong giai đoạn hiện nay đặc biệt là quá trình đô thị hoá, làng nghề còn mở mang bán nhiều các mặt hàng thiết yếu khác, phục vụ đời sống nhân dân trong vùng, đặc biệt là phục vụ sinh viên tới đây ở trọ như: hàng tiêu dùng, thực phẩm, đồ sinh hoạt…

2.2. Dân cư và lao động

Trước kia, hầu hết dân cư trong vùng đều làm nghề bún. Ngày nay, số hộ còn làm bún chỉ chiếm một nửa hoặc non nửa, theo số liệu thông kê năm 1999 là khoảng 700 hộ/hơn 1000 hộ.

Tình trạng dân cư thiếu việc làm diễn ra phổ biến, đặc biệt là lao động nữ.

Tỉ lệ lao động bỏ đi những nơi khác đang diễn ra ngày một nhiều. Điều đó làm cho mất cân bằng về dân cư, tiềm ẩn các nguy cơ lây lan dịch bệnh cũng như các tệ nạn xã hội nguy hiểm khác.

2.3. Phương thức sản xuất

Dụng cụ đồ nghề để làm bún, nhiều bộ phận nay cũng đã được “máy hóa”, máy móc phần nào làm bớt đi nỗi nhọc nhằn, nhưng lại vất vả bận rộn hơn vì phải luôn chân luôn tay cùng với nhu cầu của người tiêu dùng đòi hỏi về chất lượng cũng như số lượng sợi bún ngày một cao hơn. Máy ép bún, máy vo gạo, máy quay hồ … đã thay thế được phần lớn sức lao động.

2.4. Thị trường

Bên cạnh là cung cấp cho dân trong làng,thị trường bún phú đô đã mở rộng hơn trước như: cung cấp bún cho các nhà hàng, khách sạn ở Hà Nội, Hà Tây cũ, ngoại thành Hà Nội. Đặc biệt là sự xuất hiện nhiều hơn của bún Phú Đô tại các nhà hàng lớn.

2.5. Đất đai

Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Trong tổng số 400 ha đất nông nghiệp, thì Nhà nước lấy 200 ha để làm dự án, bây giờ chỉ còn khoảng 200 ha, nhưng có khoảng 1/3 số đó không sử dụng cho nông nghiệp được, vì không có nước tưới tiêu. Một vài năm tới, số đất còn lại cũng sẽ bị thu hồi phục vụ đề án phát triển công nghiệp (Bún Phú Đô – Một nét tinh hoa văn hóa ẩm thực Hà Nội, http://irv.moi.gov.vn).

Trên những vùng đất trồng nông nghiệp trước kia bây giờ mọc lên hàng loạt những trung tâm siêu thị, mua sắm, các doanh nghiệp công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp vừa và nhỏ, các khu nhà - cơ quan thuộc quyền quản lý của nhà nước…

Làng bún Phú Đô nay khác xưa nhiều.Với những nhà mái ngói, nhà mái bằng, nhà tầng, nhà cho sinh viên thuê…, làng Bún đã trở thành làng của phố. Trước đây, cả làng Phú Đô đều làm bún. Từ ngày đô thị hoá, diện tích đất bị thu hẹp vì một số gia đình bán đất xây nhà, không còn đất để chăn nuôi, không còn đất để làm bún, một số hộ quay sang cất bún bán buôn cho các nhà hàng. Một số nhà gần mặt phố chuyển sang kinh doanh nhỏ lẻ như mở cửa hàng cơ khí, và cho thuê dịch vụ vận tải…

Tình trạng bán đất diễn ra “sôi động”,”nóng” hơn bao giờ hết. Chính vì vậy,nó đã đẩy giá đất ở đây lên rất cao. Thị trường môi giới nhà đất với các trung tâm môi giới mọc lên san sát.

2.6. Môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

Thôn Phú Đô, xã Mễ Trì - huyện Từ Liêm có nghề làm bún gia truyền. Hiện tại ở đây có gần 600 hộ dân sinh sống bằng nghề làm bún. Tính trung bình mỗi ngày Phú Đô sản xuất trên 50 tấn bún.

Hầu hết những gia đình sản xuất bún ở Phú Đô đều nuôi lợn để tận dụng những bã gạo trong quá trình sản xuất bún. Vì vậy, hàng ngày nước thải từ gạo ngâm chua để làm bún, nước bún đến nước thải ở các chuồng lợn đều đổ ra hệ thống nước thải chung của thôn, gây ô nhiễm môi trường.

Vì vậy, người dân các làng nghề ở Từ Liêm đang phải đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Mặc dù biết môi trường sống và sản xuất đang ô nhiễm, nhưng vì cuộc sống người dân vẫn phải sống trong môi trường đó, và trông chờ vào giải pháp xử lý nước thải của cơ quan chức năng .

Trong thời gian gần đây, có rất nhiều bài báo cũng như dư luận quan tâm tới môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm tại làng bún Phú Đô. Đó là sự mất vệ sinh trong quy trình làm bún: gạo ngâm trong những chiếc thùng, xô, chậu cáu vàng, mùi chua loét bốc lên nồng nặc. Những mẻ bún ấy làm xong được đặt tạm bợ lên một tấm liếp tre mốc meo, bên cạnh là những viên than tổ ong được xếp chồng chất lên nhau. Chiếc máy làm bún xem chừng đã hoạt động hết công suất, được khai thác triệt để, hoen gỉ, váng từ chân đến miệng…

Khi gặp phải sự cạnh tranh trên thị trường, nhiều hộ làm bún ở Phú Đô giữ giá bằng cách xây dựng những bể ngâm dã chiến. Theo đó, bể rót bột được xây bằng gạch, để tránh thẩm thấu người ta lót vào đó nhiều tấm vải rách cáu bẩn. Bên cạnh đó, để hoàn tất các công đoạn sản xuất bún, mỗi hộ phải mất trung bình 3m3 nước sạch và thải ra môi trường khoảng 5m3 nước bẩn. Điều này đã đưa ra một thực trạng rất nan giải: thiếu nước sạch, nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm nặng, lượng nước giếng khoan chưa qua xử lí dẫn tới nhiều dịch bệnh cho người dân trong làng nghề (Đau mắt hột, các bệnh ngoài da và bệnh đường ruột...).

            Mặc dù, chính quyền địa phương đã cho xây dựng hàng loạt các trạm xử lí nước thải với số tiền đầu tư trị giá hàng tỉ đồng nhưng trên thực tế, hàng loạt các mục công trình bị mất cắp, các bể chứa và xử lí nước thải xây dựng dở dang và có dấu hiệu xuống cấp vì lí do “thiếu mặt bằng”, việc giám định chất lượng sản phẩm và vệ sinh môi trường cũng không được tiến hành kĩ lưỡng, bài bản…Bởi vậy, cùng với quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường làng nghề được coi như một hệ quả tất yếu, không thể nào tránh khỏi đồng thời cũng không có cách giải quyết triệt để.

Ô nhiễm môi trường ở làng Phú Đô đã đến mức báo động đỏ, rất nhiều câu hỏi về môi trường, về ảnh hưởng sức khỏe được đặt ra không chỉ cho người dân tại đây mà còn với các cấp chính quyền.

2.7. Chất lượng cuộc sống của người dân

Đời sống của người dân làng Phú Đô được nâng cao hơn trước. Những năm qua, Phú Đô cũng như các thôn, xã lân cận bị cuốn theo công cuộc đô thị hóa, dần chuyển mình và trở thành một phần của trung tâm mới của thành phố. Trung tâm mới này có tên gọi chung, rất quen thuộc: Mỹ Đình.

Làng bún nay đã thay đổi, trở thành phố đông đúc, nhộn nhịp. Nếu trước đây, đến Phú Đô, vào nhà nào cũng thấy ngổn ngang, lổng chổng xoong thùng, mùi chua của gạo. Mô hình nhà thường nhà ở - nhà ngang làm bún, tiếp đó là chuồng lợn xây quay mặt vào nhau, đường làng nhỏ… Ngày nay, nhà thấp tầng gần như được thay thế bằng nhà 3 - 5 tầng, lồi ra, thụt vào, cao thấp. Đường làng xưa cũ được đổ bê tông, cống được ngầm hóa. Về lý thuyết đường đã mở rộng hơn. Nhưng thực tế lại khác do hầu hết các ngôi nhà đều hướng cửa ra đường. Nhà nhà tận dụng không gian mặt phố hoặc cho người khác thuê mặt tiền để kinh doanh hoặc tự mở cửa hàng buôn bán nhỏ.

Đồ dùng vật dụng làm bún cũng như sinh hoạt hàng ngày được sắm sửa khá đầy đủ, góp phần giảm bớt sự nặng nhọc. Trước kia, hàng ngày, họ phải ngồi bên cạnh bếp lò từ 4 đến 5 tiếng để ép và vớt bún, cũng đồng nghĩa với việc họ phải thường xuyên hít thở khí than bay ra từ trong lò vốn rất độc hại. Hay ở công đoạn cuối cùng là đãi bún, tay họ luôn trực tiếp tiếp xúc với nước nóng, nên bàn tay bị nhăn nheo, thâm đen như người già 80 tuổi… ngày nay họ đã sắm các loại máy móc như: máy ép bún, máy quay hồ… giúp giảm bớt thời gian và công sức lao động. Trong một số nhà khá giả có thêm máy giặt, máy bơm… bên cạnh tivi, xe máy.

 Những chi tiêu hàng ngày cũng dư dả hơn trước. Trong khẩu phần ăn của họ đã thêm nhiều loại thực phẩm dinh dưỡng. Ngoài ra còn tiền lo cho các con ăn học, hầu như không có trẻ em không được đến trường.

3. Đánh giá về những thay đổi hiện nay tại Phú Đô

Như vậy, từ cái nhìn toàn cảnh về làng bún Phú Đô, chúng tôi đưa ra những kết luận như sau:

Thứ nhất, đây là một trong những làng nghề truyền thống tiêu biểu trên địa bàn Hà Nội và hiện nay đang đứng trước nguy cơ bị thu hẹp về quy mô sản xuất, quy mô làng nghề do phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn: nguồn lao động thiếu, phương thức sản xuất lạc hậu, đầu ra của sản phẩm khó, giá cả thị trường tăng cao, diện tích đất thu hẹp khiến nguồn nguyên liệu trở nên khó kiếm hơn…

Thứ hai, không nằm ngoài quy luật tất yếu của quá trình đô thị hóa, làng bún Phú Đô do chậm cải tiến hình thức sản xuất nên mắc phải những vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, … từ đó dẫn đến hiện tượng người lao động không có việc làm, tệ nạn xã hội tràn lan và chất lượng cuộc sống của người dân làng nghề ngày càng khó khăn hơn.

Thứ ba, trong khi quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng tại làng bún Phú Đô thì chính quyền địa phương vẫn chưa thể đưa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả cho sự phát triển của làng nghề. Bởi vậy, làng bún Phú Đô đang đứng trước nguy cơ bị mai một ngày càng rõ rệt.

3.1. Tích cực

Đô thị hoá đang làm thay đổi bộ mặt đất nước trên nhiều phương diện. Quá trình đô thị hoá cũng đang làm thay đổi văn hoá dân tộc nói chung và văn hoá đô thị nói riêng.

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đang làm thay đổi tập quán sản xuất, kinh doanh của người đô thị theo hướng công nghiệp hoá, đa thành phần, đa dạng dịch vụ theo kinh tế thị trường. Sự biến đổi văn hoá sản xuất, kinh doanh đang thúc đẩy nhanh quá trình dân chủ trong lĩnh vực văn hoá, xác lập ngày càng đầy đủ hơn các quyền và nghĩa vụ của người dân, của các nhóm cư dân đô thị trong sáng tạo, phát huy, bảo tồn và hưởng thụ văn hoá. Người dân đô thị ngày càng chú trọng đến chất lượng các loại hình dịch vụ văn hoá, có nhiều điều kiện để chọn lựa cách thức hưởng thụ giá trị văn hoá. Trong tổ chức đời sống văn hoá, người dân đô thị đã: cơ bản khắc phục được tác phong sản xuất nhỏ, trì trệ, luộm thuộm, manh mún; hình thành tác phong công nghiệp hiện đại; xây dựng được ý thức chấp hành pháp luật, ý thức công dân và ý thức cá nhân. Xã hội công dân đang manh nha hình thành ở khu vực đô thị.

Đối với làng nghề bún truyền thống Phú Đô, hiện nay dưới nhiều tác động đặc biệt là đô thị hoá đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tạo việc làm và thu nhập cho bộ phận lớn cư dân ở đây. Từ đó, hạn chế tình trạng di dân tự do, giải quyết tình trạng thiếu việc làm…

Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật đã có tác dụng to lớn tới quá trình sản xuất, giúp giảm thiểu sức lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm

Quá trình đổi mới đất nước hiện nay đã góp phần chuyển lối sống sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang lối sống công nghiệp.

3.2. Tiêu cực

Công cuộc đổi mới ngày nay giống như 1 cuộc cách mạng, cũng có tính hai mặt của nó. Bên cạnh mặt tích cực mà nó mang lại, nó cũng tiềm ẩn những mặt tiêu cực.

Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh và mạnh, Đối với làng nghề Phú Đô, quá trình đó đã làm cho diện tích đất đai nông nghiệp bi thu hẹp, đất chuyên dùng tăng nhanh. Môi trường bị ô nhiễm nặng nề do không có sự quy hoạch và trình độ của làng nghề còn thấp, lại chưa có sự đầu tư thoả đáng cơ sở hạ tầng…

Những tiến bộ của khoa học kĩ thuật cũng tồn tại sự tiêu cực như các chất bảo quản, hóocmôn được dùng ngày một phổ biến làm giảm chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng.

Sự xuất hiện của nếp sống mới cũng mang ý nghĩa xã hội lớn lao. Đó là tình trạng thiếu việc đặc biệt là với nữ giới, sự xuất hiên của những tệ nạn xã hội ngày càng tăng như: cờ bạc, rượu chè, nghiện hút… gây mất ổn định xã hội.

3.3. Định hướng phát triển của làng Bún Phú Đô trong quá trình đô thị hoá             

 Với mong muốn đưa bún Phú Đô trở thành một thương hiệu nổi tiếng trên thị trường, Ban quản lí hợp tác xã Phú Đô đã đầu tư công nghệ, vốn nhằm cơ giới hóa trong sản xuất và đưa ra kiến nghị với chính quyền thành phố Hà Nội xin mở rộng địa bàn làng nghề, phục vụ cho khâu xử lí nước thải, đảm bảo vệ sinh môi trường. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn lấy lại lòng tin của người tiêu dùng đối với thương hiệu, đồng thời góp phần bảo tồn và phát triển nghề và làng nghề truyền thống thông qua những hướng phát triển sau:

- Yếu tố thị trường được chú trọng nhằm tăng khả năng canh tranh của sản phẩm, khẳng định thương hiệu riêng của làng bún Phú Đô.

        - Cần ổn định và tiếp tục phát triển nghề truyền thống, thị trường. Cần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật công nghệ vào sản xuất.

- Đầu tư vốn vào cơ sở vật chất kĩ thuật cũng như có các chính sách ưu tiên phát triển làng nghề.

III. HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG HÀ NỘI HIỆN NAY

1. Hướng phát triển cho các làng nghề truyền thống Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

Để cho các nghề, làng nghề phát triển ngày một hiệu quả hơn cần phải có sự quyết tâm phối hợp đồng bộ giữa nhà nước và các thành phần kinh tế, cụ thể cần phải có các giải pháp sau:

1.1. Về mặt bằng sản xuất, cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường, chính sách quản lý của nhà nước

Thành phố sớm xây dựng quy hoạch cụm tiểu công nghiệp - thủ công nghiệp, triển khai xây dựng khu sản xuất tập trung, tách sản xuất khỏi khu dân cư tại một số làng nghề có khả năng phát triển nhằm chuyển hoạt động sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi nơi dân cư, bố trí sắp xếp lại sản xuất, áp dụng công nghệ mới nhằm tăng năng suất, chất lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Lập quy hoạch chi tiết phát triển nghề và làng nghề đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất phục vụ cho các làng nghề xây dựng nhà xưởng để sản xuất, quy hoạch hạ tầng cho các làng nghề và khu vực sản xuất tập trung.

Thành phố cần đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án quy hoạch phát triển làng nghề đã được phê duyệt. Đề nghị Thành phố có hướng dẫn cụ thể về công nhận các làng nghề đạt danh hiệu “Làng nghề Hà Nội” theo Quyết định số 155/2004/QĐ-UB ngày 31/1/2004 của UBND Thành phố Hà Nội, đồng thời cần thành lập Quỹ khuyến công Thành phố.

1.2. Về khoa học công nghệ

Thành phố cần có cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ cho các cơ sở sản xuất của nghề, làng nghề. Hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn để xây dựng một số mô hình trình diễn về công nghệ mới để nhân rộng ra tại khu vực công nghiệp nông thôn.

1.3. Về lao động và việc làm

Hỗ trợ kinh phí và phối hợp với Chính quyền địa phương tổ chức các lớp đào tạo nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề nhằm tạo cơ hội tìm kiếm việc làm, ổn định đời sống cho lao động tại địa phương. Có thể hình thành một trung tâm đào tạo nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu phát triển của làng nghề.

1.4. Về vốn sản xuất

Nhu cầu vốn vay của các cơ sở sản xuất nghề, làng nghề rất lớn, song lãi suất còn cao, thời gian và thủ tục vay còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đến việc đầu tư mở rộng sản xuất. Do vậy rất cần được sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc cho các hộ vay vốn sản xuất với lãi suất ưu đãi.

Để các thành phần kinh tế phát triển dịch vụ cho vay dưới nhiều hình thức tạo điều kiện huy động vốn nhàn rỗi vào đầu tư sản xuất.

Ngân hàng cho phép các cơ sở sản xuất ở các làng nghề được dùng máy móc, công cụ sản xuất thế chấp vay vốn đầu tư sản xuất.

Tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế trong các xã làng nghề được tìm kiếm các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức quốc tế.

1.5. Về thị trường

Đẩy mạnh việc hỗ trợ cho các cơ sở nghề và làng nghề tham gia các hội chợ - triển lãm. Tổ chức các đoàn tham quan khảo sát, học tập kinh nghiệm, tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm.

Giới thiệu thông tin thị trường là sự hỗ trợ cần thiết của nhà nước đối với làng nghề. Khuyến khích Hội nghề nghiệp xây dựng các trang website để quảng cáo và dần từng bước đưa việc giới thiệu sản phẩm của các làng nghề trên các dịch vụ này trở thành phổ biến ở các doanh nghiệp làng nghề.

 Hỗ trợ quảng bá sản phẩm, thương hiệu, nhãn hiệu và danh tiếng truyền thống làng nghề thông qua hoạt động khuyến công. Thành phố cần hỗ trợ và quảng bá mạnh hơn nữa loại hình “Du lịch làng nghề”.

Đầu tư phát triển nghề, làng nghề truyền thống Hà Nội vừa là một chủ trương lớn của thành phố vừa là một nội dung quan trọng trong chiến lược Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông thôn, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả cao. Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của thành phố, nghề và làng nghề Hà Nội đã có những bước phát triển và đạt được những thành tựu nhất định tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần được tháo gỡ. Vì vậy những vấn đề trình bày trên đã đánh giá một cách tương đối khách quan thực trạng phát triển nghề, làng nghề truyền thống và đưa ra một số giải pháp cụ thể trên cơ sở nhận thức khoa học về đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các nghề, làng nghề truyền thống.

2. Một số giải pháp cho sự phát triển của các làng nghề truyền thống ở Hà Nội hiện nay

Hỗ trợ các làng nghề ổn định thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới. Xây dựng chiến lược sản phẩm gắn với chiến lược thị trường. Khuyến khích các cơ sở trong làng nghề đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị theo phương châm kết hợp công nghệ tiên tiến với công nghệ thủ công truyền thống nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trên thị trường…

Bên cạnh đó, việc tiến hành đa dạng hóa sản phẩm bằng cách sản xuất nhiều mặt hàng từ cốm (bánh cốm, kẹo cốm, cốm dẻo…),  mây tre (đồ dùng gia đình, vật dụng trang trí, thủ công mĩ nghệ…), cũng cần được lưu ý như một hướng nhằm mở rộng ngành nghề truyền thống, để người tiêu dùng được sử dụng nhiều sản phẩm, kích thích sự tăng trưởng của sức mua bán trên thị trường.

Trong nước, ta cần có một trung tâm, một công ty hoặc một ban ngành chịu trách nghiệm mở rộng mối cung cấp nguyên liệu, thu mua sản phẩm, phân phối và sản xuất sản phẩm của các hộ gia đình trong làng một cách rộng rãi, chất lượng, vừa hiện đại vừa lưu giữ được nét truyền thống một cách tự nhiên và bài bản.

Cần phải thiết lập hệ thống bán hàng chuyên nghiệp, mở các lớp đào tạo, huấn luyện nghề truyền thống cho các thế hệ trẻ và nâng cao tay nghề của thợ thủ công. Đây là biện pháp nhằm tăng chất lượng sản phẩm và để mở rộng đầu ra của sản phẩm. Tuy nhiên đây không phải là điều dễ thực hiện. Bởi lẽ hầu hết các làng nghề hoạt động độc lập theo phương thức mạnh ai người nấy làm không có cơ chế cụ thể.

Mở ra các hiệp hội giúp đỡ người dân vay vốn của ngân hàng nhà nước để phát triển quy mô sản xuất, giải quyết việc làm cho nguồn lao động. Tổ chức các hội chợ triển lãm, trưng bày sản phẩm, quảng bá thương hiệu, nơi sản xuất.

Bên cạnh đó, cần chú trọng tới đối tượng tiêu thụ các sản phẩm truyền thống đó như: với khách nội địa, giá thành phải chăng nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm, tái lập những khu mua bán như phố cổ để người mua tiện lợi hơn trong việc tiếp cận, giao dịch và sử dụng sản phẩm. Chủ yếu các mặt hàng truyền thống này sẽ được chú trọng phát triển trong địa bàn Hà Nội và một số vùng phụ cận.

Với khách nước ngoài, ta cần giới thiệu sản phẩm tại các địa điểm du lịch, trên internet, tại các công ty du lịch, hệ thống các khách sạn, nhà hàng và khu vui chơi, giải trí… Giá thành sản phẩm có thể cao hơn so với khách trong nước nhưng phải tránh tình trạng bán với giá “cắt cổ” nhằm kiếm lợi nhanh từ khách nước ngoài hay những du khách từ nơi xa tới. Ngoài ra, một số hình thức mua bán như kiểu bán rong cổ truyền vẫn được duy trì, nhưng sẽ là các cô gái mặc áo tứ thân mớ ba mớ bảy với quang gánh, với lá sen xanh và những cọng rơm vàng tại các hội chợ ẩm thực truyền thống hay các tour du lịch nhân văn… sẽ là cơ hội để Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc, đồng thời quảng bá tên tuổi các làng nghề rộng rãi.

Nhìn chung, hiện nay làng bún Phú Đô đang phải đối phó với nhiều khó khăn, thử thách để có thể bám trụ với nghề và lưu giữ văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Bên cạnh đó, những giải pháp đưa ra có thể chưa đem lại hiệu quả nhanh chóng và hoàn toàn khả quan nhưng cũng thể hiện những điều nhà nước, chính quyền các cấp cần làm và nên làm đối với các làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội.

 

C. KẾT LUẬN

Sau một quá trình tiến hành điều tra và nghiên cứu, chúng tôi rút ra những kết luận sau:

Thứ nhất, số lượng các làng nghề trên địa bàn Hà Nội lớn, các sản phẩm truyền thống phong phú, đặc sắc tạo nên nền văn hóa đa dạng, độc đáo cho nước nhà.

Thứ hai, sự mai một của các làng nghề truyền thống ngày càng rõ rệt, xuất phát từ nhiều nguyên nhân: nhân lực, nguyên liệu, cơ sở vật chất, chất lượng và số lượng sản phẩm…

Thứ ba, các chính sách đầu tư của chính quyền địa phương chưa được thực thi một cách có hiệu quả do tình hình thực tế nhiều biến động: giá cả thị trường tăng mạnh, khủng hoảng kinh tế của nhiều quốc gia ảnh hưởng đến các sản phẩm xuất khẩu…

Thứ tư, hầu hết các mặt hàng truyền thống của Việt Nam đều có giá trị xuất khẩu lớn tuy nhiên do sự giới thiệu, quảng bá hình ảnh của ta chưa thực sự rộng rãi và có hiệu quả cho nên nguồn thu ngoại tệ từ các mặt hàng trên vẫn còn thấp.

Thứ năm, quá trình đô thị hóa của mang theo những tác động trái ngược nhau đến sự bản tồn và phát triển các làng nghề các làng nghề ở Hà Nội. Những giải pháp đưa ra mới chỉ được thực hiện bước đầu, vì vậy, bản thân mỗi cá nhân, gia đình sinh sống tại các làng nghề truyền thống phải nỗ sự bằng chính sức mình để giữ được cái “gốc” mà ông cha đi trước đã truyền lại.

Sau báo cáo, hướng nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi đó là:

- Tìm hiểu sâu về quá trình đô thị hóa ở các làng nghề truyền thống tiêu biểu của Hà Nội như gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội), lụa Vạn Phúc (thành phố Hà Đông, Hà Nội), mây tre đan Phú Vinh (huyện Thanh Oai, Hà Nội)…

- Tìm hiểu về sự những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới chất lượng cuộc sống của người dân trong làng nghề truyền thống.

Trong điều kiện hạn hẹp về mặt thời gian và nguồn tư liệu, báo cáo còn rất nhiều thiếu sót và hạn chế, kính mong nhận được sự ủng hộ và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.

 

--------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bạch Thị Thu Hường, 2002. Sự phát triển và phân bố các làng nghề thủ công truyền thống ở Hà Tây. Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.

[2] Hoàng Văn Thức, 2002. Thực trạng và giải pháp phát triển nghề, làng nghề truyền thống của Thủ đô giai đoạn 2001 – 2010. Cục Thống kê Việt Nam xuất bản.

[3] Lê Thị Tươi, 2005. Nghề dệt cổ truyền Vạn Phúc trong thời kỳ chuyển sang kinh tế thị trường. Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.Hh

[4] Bùi Văn Vượng, 2002. Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Nxb Văn hóa – Thông tin.

Phạm Thị Thùy Dương, Nguyễn Thị Thúy Điệp, Nguyễn Thị Linh Thuỳ - K57, VNH
In bài Gửi bài cho bạn
Các tin đã đưa:
  • VÀI NÉT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG ĐẤT TỔ (19/06/2010)
  • MỘT SỐ NÉT TƯƠNG ĐỒNG TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC (19/05/2010)
  • TÍNH TRỘI CỦA YẾU TỐ NỮ TRONG HỆ THỐNG TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM (13/06/2009)
  • Người giữ lửa trong ngôi nhà cổ (04/05/2009)
  • Vì sao vua Trần Nhân Tông về Yên Tử tu hành? (01/12/2008)
  • Trần Nhân Tông và bài học tư tưởng giải phóng nội lực (30/11/2008)
  • Quân vương Anh hùng, tu Thiền không thoát tục (29/11/2008)
  • Vua Trần Nhân Tông và tinh thần "Bụt ở trong nhà" (25/11/2008)
  • Ba cái nhà cổ làm khổ cả làng (18/11/2008)
  • CÓ HAY KHÔNG "LÀNG UNG THƯ ĐƯỜNG LÂM"? (14/11/2008)
  • HỒ QUÝ LY - CẦN MỘT CON ĐƯỜNG MANG TÊN ÔNG (07/11/2008)
  • "NỐI" SUM HỌP CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM (23/10/2008)
  • Giá như có một "Tổng đội TNXP"...! (22/10/2008)
  • TÌNH THƯƠNG VỚI CÁC EM LÀ CHƯA ĐỦ (21/10/2008)
  • CHUYỆN CỔ TÍCH LÀNG BÀ KHÊ (18/10/2008)
  • ALBUM ẢNH 
    Chùa Thầy
     
     
    Lịch tập trung ôn thi hệ liên thông khóa 2
     
    ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG SỰ TRUYỀN BÁ CÔNG GIÁO VÀO VIỆT NAM VÀ PHILIPPIN


    Bản quyền thuộc Khoa Việt Nam Học
    Thiết kế và phát triển bởi C.I.S