Nhìn vào xã hội Việt Nam hiện đại, thật khó có thể hình dung ra xã hội Việt Nam cổ truyền chỉ cách đó hơn 100 năm. Thời kì cận đại tuy chỉ là một chặng đường nhỏ trong lịch sử dân tộc, nhưng dấu ấn và ảnh hưởng của nó đã tạo nên những biến đổi toàn diện, sâu sắc tới dân tộc. Bài viết này muốn góp phần ghi nhận vai trò của những cá nhân người Việt đã có công trong cuộc vận động mạnh mẽ của toàn dân tộc để hiện đại hóa, thông qua việc tìm hiểu về Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, nhân dịp cuốn Toàn tập Nguyễn Văn Ngọc vừa ra đời và một con đường ở Hà Nội được mang tên ông.
I. ĐẶt vẤn đỀ
Nhìn vào xã hội Việt Nam hiện đại, thật khó có thể hình dung ra xã hội Việt Nam cổ truyền chỉ cách đó hơn 100 năm. Thời kì cận đại tuy chỉ là một chặng đường nhỏ trong lịch sử dân tộc, nhưng dấu ấn và ảnh hưởng của nó đã tạo nên những biến đổi toàn diện, sâu sắc tới dân tộc.
Bài viết này muốn góp phần ghi nhận vai trò của những cá nhân người Việt đã có công trong cuộc vận động mạnh mẽ của toàn dân tộc để hiện đại hóa, thông qua việc tìm hiểu về Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, nhân dịp cuốn Toàn tập Nguyễn Văn Ngọc vừa ra đời và một con đường ở Hà Nội được mang tên ông.
1. Việt Nam buổi giao thời và những nhu cầu thời đại
Nền văn minh phương Tây như làn sóng tràn vào Việt Nam trong những thế kỷ XVII, XVIII và trở thành nền văn hóa bảo hộ của văn hóa Việt Nam giai đoạn cận đại (cuối XIX – đầu XX). Khi Nho học suy, các giá trị truyền thống bị đặt lên bàn cân và mất chỗ dựa. Nền văn hóa dân tộc đứng trước nhu cầu tìm kiếm một đường đi để tồn tại mà không mất bản sắc.
Đúng lúc ấy, chữ quốc ngữ ra đời như một giải pháp cho tiếp xúc văn hóa. Chữ quốc ngữ được dùng để ghi lại và ấn hành các tác phẩm cổ văn. Chữ quốc ngữ được dùng để dịch các tác phẩm lớn từ các nền văn hóa khác. Chữ quốc ngữ được dùng để thông tin đại chúng và viết sách giáo dục…
Cùng với quá trình truyền bá chữ quốc ngữ là cuộc vận động lâu dài liên tục, khi rộng rãi khi manh nha của trí thức Việt Nam trong nỗ lực tìm giải pháp cho văn hóa dân tộc. Có nhiều cách phản ứng: hoặc là níu giữ cái cũ, không chấp nhận cái mới theo xu hướng hoài cổ bài tân như một số trí thức thời kì đầu bị xâm lược: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu… Xu hướng thứ hai là chấp nhận một số cái mới tiến bộ như học chữ quốc ngữ, đọc sách phương Tây, học trường Tây rồi dùng cái mới đó để nghiên cứu, ghi chép về dân tộc mình, đó là cách ứng xử của các nhà sưu tầm như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Ngọc, Phan Kế Bính, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên… Một cực nữa là xu hướng từ chối cái cũ, học theo cái mới, đó là chủ trương bài cổ với một số ít người theo. Mỗi xu hướng đều có những gương mặt tiêu biểu và họ có đóng góp nhất định cho việc giữ lại các giá trị tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu cái mới tiến bộ.
2. Nguyễn Văn Ngọc và sự nghiệp trước tác
(Theo Toàn tập Nguuyễn Văn Ngọc, tập I, phần Mở đầu – Lê Thanh Hiền)
Tên là Ngọc Nhữ, hiệu Ôn Như, tự Đông Trạch, sinh ngày 1-3-1890 tại ấp Thái Hà – phủ Hoài Đức – tỉnh Hà Đông. Mất ngày 26-4-1942. Từ nhỏ Nguyễn Văn Ngọc theo học Hán văn, khi lớn lên chuyển sang học quốc ngữ, rồi học trường College des Interpretes (Trường thông ngôn) người Pháp mở tại Hà Nội. Năm 1904 ông tốt nghiệp trường Thông ngôn, thì năm 1905 người Pháp mở trường College du Protectorat (Trường Bảo hộ) tại Hà Nội, ông vào khóa đầu tiên bậc cao đẳng tiểu học 4 năm.
Ra trường, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc làm công chức ngành giáo dục từ dạy trường tiểu học, trường sư phạm, trường Hậu bổ (Sĩ hoạn), rồi trưởng thanh tra sơ học Bắc Kỳ, đến Trưởng cục Tu thư Nha học chính Đông Dương, Đốc học tỉnh Hà Đông. Về công tác xã hội, ông từng làm Hội trưởng Hội ái hữu các nhà giáo, Hội phó Hội Phật giáo Hà Nội, thành viên Hội Khai trí tiến đức, có chân trong nhóm Cổ Kim thư xã ở Hà Nội và là cây bút chủ lực của nhóm, viết nhiều thể loại bằng Việt ngữ, Pháp ngữ, Hán ngữ…
Về tác phẩm: có 18 thư tịch (theo thống kê thư tịch thu thập từ các thư viện). Các sách công cụ tiêu biểu phổ biến quốc gia hồi đầu thế kỷ đều nhắc có danh mục Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc. Ngoài công việc nhiệm sở, Nguyễn Văn Ngọc dồn tâm huyết và thời gian vào việc sưu tầm, tra cứu, biên soạn, đã lần lượt cho ra đời 18 công trình và chuyên đề, đều mở đầu thể loại chủ yếu bằng Việt ngữ.
Sách đã xuất bản:
1922, 1930, 1932, 1933: Phổ thông độc bản lớp dự bị, Phổ thông độc bản lớp đồng ấu, Phổ thông độc bản lớp trung đẳng, Phổ thông độc bản các trường sơ học Pháp –Việt
1929: Nhi đồng lạc viên
1930: Để mua vui
1927: Đông Tây ngụ ngôn
1925: Cổ học tinh hoa,
1927: Nam thi hợp tuyển,
1932: Đào nương ca…
1928: Tục ngữ phong dao (2 tập – 800tr, 6500 câu tục ngữ, 850 bài ca dao, 350 câu đố)
1932 và 1934: Truyện cổ nước Nam. Quyển thượng – Người ta, quyển hạ - Chim muông, gồm 249 truyện các loại: cổ tích, thần thoại, tiếu lâm, ngụ ngôn…
Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi tiếp cận lời nói đầu trong các công trình sưu tầm văn học dân gian của Nguyễn Văn Ngọc để tìm hiểu thêm về ông. Đó là các tư liệu: 1927: Đông Tây ngụ ngôn, 1928: Tục ngữ phong dao (tập 1,2), 1932 và 1934: Truyện cổ nước Nam (tập 1,2). Từ đó chúng tôi đưa ra một số chủ điểm nội dung nhằm làm nổi bật vị trí của Nguyễn Văn Ngọc với thời đại ông và với dân tộc.
II. Nét chân dung tỪ nhỮng lỜi phi lỘ
1. Nhận xét chung về lời nói đầu
Cho đến nay, chưa có công trình nào bàn riêng về Lời nói đầu (kết cấu, nội dung, đặc điểm, giá trị…) như một loại hình diễn ngôn có chức năng đặc thù và tương đối độc lập. Vì thế chúng tôi tạm đưa ra một số nhận định dựa vào sự tự tổng kết của chúng tôi, để làm cơ sở cho bài viết này.
Lời nói đầu, tựa, phàm lệ biên soạn, lời ngỏ… là phần văn bản của chính tác giả công trình, viết về công trình của mình, như một lời dẫn nhập với người đọc trước khi đọc nội dung của công trình đó. Hiện nay một số sách có cả phần Mở đầu của chính tác giả, có cả phần Giới thiệu sách của một học giả khác do tác giả mời viết (để làm phần đánh giá về cuốn sách có phần khách quan, khác chiều hơn). Chúng tôi xin được chưa bàn đến những phần giới thiệu sách ấy, vì không trực tiếp phục vụ cho bài viết này.
Lời nói đầu, do vậy, thường bao hàm các ý nội dung sau:
- Lý do để tác giả chọn vấn đề được nói đến: hoàn cảnh khách quan tạo ra nhu cầu, hoàn cảnh cá nhân (thế mạnh, niềm say mê, ấp ủ cá nhân…)
- Đặc điểm tình hình nghiên cứu đối tượng cho đến thời điểm xuất bản công trình: những người đi trước, công trình đi trước, đặc điểm chung của các công trình ấy – nhằm chỉ ra mảng trống hoặc sự khác biệt về cách tiếp cận khiến cho công trình của mình vẫn có giá trị riêng. Riêng phần này, ở những công trình mang tính chất tiên phong thì đây được coi là một tổng luận ngắn về đối tượng: giới thiệu đặc điểm, giá trị của đối tượng…
- Cách thức, quy ước trình bày, biên tập của riêng công trình đang được nói đến, phạm vi giới hạn của vấn đề.
- Mục đích, ý nguyện của người viết
Với những nội dung trên, Lời nói đầu là phần cần thiết cho người đọc và người viết hiểu nhau về quy ước, định hướng… trình bày trong công trình. Đồng thời, đối với một công trình khoa học trình bày nội dung khoa học thì Lời nói đầu là cơ hội để người viết bộc bạch mình, hé lộ những tâm tư bên lề cuốn sách như một đối thoại tri âm với độc giả. Lời nói đầu vì thế vừa mang tính chất văn học vừa có tính khoa học nhất định.
Tiếp cận Lời nói đầu với tư cách một loại hình diễn ngôn độc lập, chúng tôi ngõ hầu có thể đạt được các mục đích sau:
- Thứ nhất, tìm hiểu bức tranh hoàn cảnh thời đại ra đời cuốn sách trong phạm vi nhất định, qua nhận thức và đánh giá của tác giả cuốn sách.
- Thứ hai, tìm hiểu nhận thức của tác giả về đối tượng khoa học
- Thứ ba, tìm hiểu phương pháp làm việc của tác giả với đối tượng
- Thứ tư, tìm hiểu một phần chân dung cá nhân của tác giả: trăn trở, mục đích, ý nguyện…
2. Khảo sát Lời nói đầu trong sách của Nguyễn Văn Ngọc
Lời nói đầu của Ôn như Nguyễn Văn Ngọc trong các công trình có cấu trúc không hoàn toàn giống nhau dù vẫn bao hàm đủ các mục nội dung. Để tiện cho việc khai thác thông tin, chúng tôi khảo sát với một hệ thống tiêu mục cụ thể hơn so với bố cục chung của Lời nói đầu mà chúng tôi đã tổng kết ở trên.
|
Công trình |
Tục ngữ phong dao |
Đông Tây ngụ ngôn |
Truyện cổ nước Nam |
|
Hoàn cảnh |
|
- Ngụ ngôn là lối văn xưa ta vẫn có nhưng chưa tôn lên địa vị thật xứng đáng
- Thời kỳ sách giáo khoa quốc ngữ văn còn hiếm hoi |
- Cổ kim xung đột, kim mạnh muốn nuốt cổ
- Không người nghiên cứu sưu tầm
- Nguy cơ biến mất
- Sở thích luyến ái truyện cổ |
|
Tình hình nghiên cứu |
- Các công trình đã có
- Điểm bất cập của các công trình đã có |
- Tổng luận về thể loại ngụ ngôn: khái niệm, đặc điểm, giá trị
- Ngụ ngôn Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây, An Nam
- Đặc điểm, giá trị của ngụ ngôn Việt Nam |
- Nguồn gốc truyện cổ An Nam
- Giá trị truyện cổ
- Nguồn gốc tư liệu sưu tầm |
|
Phương pháp
|
- Thu thập thêm
- Phân chia theo số chữ
- Ghi chú dị bản
- Biểu liệt tra cứu |
- Thâu thái những truyện Ngụ ngôn cũ bất phân của Việt Nam hay mượn nước ngoài
- Phu diễn ra bằng tiếng Nam, cố giữ cho hợp với tinh thần tiếng Nam, tâm lý người Nam |
- Điền dã, nghe ngóng, ghi chép
- Biên soạn cho có đầu cuối kỳ thú
- Phân ra năm loại theo giá trị sử dụng
- Trình bày đan xen cho đỡ nhàm chán với người đọc |
|
Phạm vi |
- Chú trọng sưu tập càng nhiều càng tốt |
- Chú trọng sưu tập và biên soạn càng nhiều càng tốt |
- Chú trọng sưu tập và biên soạn càng nhiều càng tốt |
|
Mục đích
Ý nguyện |
- Tiếp tục chỉnh sửa bổ sung
- Nghĩa vụ tồn cổ: vun trồng cái gốc Văn Việt Nam của tổ tiên xưa được chắc rễ bền cây
- Giúp tài liệu cho giáo dục: nhờ cái gốc đó mà nảy cành xanh ngọn, bổ ích cho bạn thiếu niên |
- Tiếp tục chỉnh sửa bổ sung
- Nghĩa vụ tồn cổ
- Giúp tài liệu cho giáo dục: đưa ngụ ngôn vào sách quốc văn giáo khoa: bài tập đọc, thuộc lòng |
- Tiếp tục chỉnh sửa bổ sung
- Nghĩa vụ thiêng liêng với văn chương nước nhà
- Mong có người tiếp tục sưu tầm
- Mong nhiều người đọc, yêu, sành truyện cổ
- Mong các văn sĩ lấy truyện cổ làm cốt mà phóng tác
- Làm người Nam nên biết truyện cổ nước Nam. |
3. Bài học từ những Lời nói đầu
3.1. Cái nhìn chính xác về hoàn cảnh đất nước và nguy cơ đối với văn hóa dân tộc
Tuy không bàn riêng về xã hội đương thời, nhưng những lời nói đầu cũng cho ta thấy cách nhìn của Nguyễn Văn Ngọc qua cách cụ gọi đó là “Cái buổi giao thời táp nham”, “Cổ kim xung đột”. Cụ thấy rõ một mối lo “kim mạnh muốn nuốt cổ”. Mối lo ấy thường trực đến nỗi trong mọi công trình cụ đều cố gắng bộc lộ ra, cũng qua những lời nói đầu, ngõ hầu ai đó đọc mà cảnh tỉnh về tình trạng đất nước.
Cụ thể hóa các nguy cơ, Ôn Như diễn đạt bằng cách kể rõ hiện trạng: ví như câu đối trong buổi hiện nay tuy vẫn nhiều mà người viết thì nắm không vững cách viết, người treo thì không biết thưởng thức, khiến cho nhiều câu đối rất dở vẫn cứ được treo ở nơi đông người náo nhiệt nhất. Thứ nữa, cụ báo nguy cho tình trạng không có người lưu tâm đến vốn cổ.
… Về bên gọi là “dân gian thành lập” thì ngán thay! Từ bao giờ đến giờ, lắm người vẫn coi như không kế vào đâu, không có địa vị, giá trị nào, khinh khỉnh thờ ơ coi thường, như coi thường chính bọn dân gian hay dân đen “chân lấm tay bùn” vậy.
Người ta thích thú đến văn chương phương Tây, hoặc Trung Quốc, hoặc Hán Văn, hoặc văn quốc ngữ Việt Nam – thì ông tìm mảng trống “dân gian thành lập” để lưu tâm thích thú, đây chính là cái nhìn đầy trách nhiệm với dân tộc. Bức tranh viễn cảnh về một ngày mai không có người mẹ, người bà nào biết kể truyện cổ cho trẻ con Việt Nam chính là một cảnh báo với người Việt.
Trong bối cảnh đó, những giá trị của dân tộc trở thành vũ khí để chống lại nguy cơ. Ôn Như nói: … “Đã là người phương Đông hay phương Tây, da trắng hay da vàng cũng thuộc về một nhân loại, cùng chung một tư tưởng như nhau được, vậy người nước Nam cũng là người có một cái óc cái tâm tính như người thì há lại không tự nghĩ ngợi phát minh nên được cái gì giống như người hay sao”. Đây một mặt là cách nghĩ rất tỉnh, rất đúng về quy luật sáng tạo nghệ thuật, một mặt là phản đề với xu hướng sùng ngoại, cho rằng mọi thứ ở An Nam đều do nước ngoài đem lại.
Cụ thể hơn, cụ chỉ ra được “cái sáng tạo của người nước Nam”. Ôn Như viết: “Nước ta cổ những hơn bốn nghìn năm” câu nhiều người Nam ta thường nói, mà như có ý tự phụ cho cái “cổ” là quý. Vậy thì nước Nam cổ ở những cái gì? Nòi giống cổ, lịch sử cổ, phong tục cổ, chế độ cổ, văn chương, mỹ thuật cổ, đền đài, di tích cổ, người cổ, óc cổ, tiền cổ đồ cổ, truyện cổ…
Vì thế, ông giương cao ngọn cờ chủ nghĩa tồn cổ, coi đó là “nghĩa vụ thiêng liêng với tổ tiên”. Trong các đồ cổ đó, phải tìm cho ra cái đồ cổ nó làm người Nam là người Nam, nước Nam là nước Nam, tìm giữ được cái đó chính là tìm được giải pháp cho nước Nam trong buổi “táp nham” ấy.
3.2. Kiến thức sâu rộng, đúng đắn về văn học dân gian
Xuất phát điểm của cụ Ôn Như là công chức ngành giáo dục. Thế nhưng cụ đã dành thời gian công sức ngoài giờ để sưu tầm văn học dân gian. Đó vừa là cái thú riêng của mỗi người, như cụ thừa nhận: Về phần chúng tôi, thì chúng tôi hằng để tâm đến truyện cổ, tìm tòi truyện cổ, góp nhặt truyện cổ, ghi chép truyện cổ, thu xếp truyện cổ, nghe ngóng, kể lể truyện cổ, mua chuộc, giữ gìn truyện cổ… chẳng khác chi một nhà mê chơi đồ cổ mà chứa chất đồ cổ vậy. Đó cũng là thức nhận của cụ về giá trị văn chương bình dân, vai trò của nó trong buổi giao thời, và những nguy cơ mai một.
Trước Ôn Như, cũng đã có những công trình sưu tập văn học dân gian bằng chữ quốc ngữ. Đó là Trương Vĩnh Ký với “Chuyện đời xưa” (1866), Huỳnh Tịnh Của với “Chuyện giải buồn” (1880, 1885). Tuy nhiên sưu tập với số lượng lớn và thống nhất trên quan điểm, phương pháp, tiêu chí biên soạn thì chỉ có ở mấy tập truyện cổ, phong dao và ngụ ngôn của Nguyễn Văn Ngọc.
3.2.1. Nhận thức về thể loại văn học dân gian
Những thể loại lớn như Tục ngữ phong dao, Truyện cổ thì trước đó đã được công nhận và bàn đến ít nhiều, Nguyễn Văn Ngọc do đó chỉ sưu tập thêm, phân loại lại và trình bày theo một trật tự dễ dàng hơn cho việc đọc và tra cứu. Tác giả Nguyễn Thị Huế trong bài viết “Thế kỷ XX và việc sưu tầm, nghiên cứu truyện cổ dân gian Việt Nam” đánh giá: “người có công đầu trong việc có ý thức phân loại truyện dân gian Việt Nam là Nguyễn Văn Ngọc” (tr293).
Đại để, chúng tôi có thể chia phác ra làm năm mục như sau:
1. Những truyện thuộc về cái lối cổ tích hoặc dã sử, cha mẹ hay ông bà tối tối thường kể cho con cháu nghe.
2. Những truyện mà kết cục đã thành câu phương ngôn, lý ngữ, hoặc trái lại, xuất xứ từ những câu lý ngữ phương ngôn ấy ra.
3. Những truyện thuần về văn chương trong đó có những câu ca, bài hát nôm na mà vui thú, giản dị mà tự nhiên, xưa kia đâu đó vẫn thường truyền tụng.
4. Những truyện trong ngụ ngôn một cái ý cao xa thuộc về triết lý
5. Những truyện vui chơi cười đùa có lý thú, để tiêu sầu khiển muộn
Tuy chưa có sự phân biệt rõ ràng và gọi tên các thể loại tự sự dân gian như ngày nay, song sự phân loại trên cho thấy Nguyễn Văn Ngọc có ý thức về sự khác biệt của các nhóm truyện cổ.
Còn đối với “Ngụ ngôn”, một “lối văn xưa ta vẫn có nhưng chưa tôn lên địa vị thật xứng đáng” thì Nguyễn Văn Ngọc dụng công mô tả như một tổng luận về thể loại ngu ngôn: khái niệm, đặc điểm, giá trị, ngụ ngôn phương Tây, ngụ ngôn Trung Hoa, Ấn Độ và ngụ ngôn nước Nam.
Chữ “ngụ” là gá gửi, chữ “ngôn” là lời nói. Dùng hai chữ ngụ ngôn để chỉ cái lối văn, hoặc văn xuôi, hoặc văn vần, thường đặt thành câu chuyện đem kể, rồi nhân câu chuyện mà dẫn những nhời quy châm về luân thường đạo lý, để cảm hóa lòng người. Mượn chuyện vật để nói chuyện người, tạo ra những điều khó tin. Người kể cho vật mượn những tâm tính của con người.
Đó chính là một số đặc điểm dễ nhận dạng của truyện ngụ ngôn, được Nguyễn Văn Ngọc diễn đạt dưới một hình thức nôm na nhất. Việc đưa ra được một bức tranh sơ lược về ngụ ngôn các nước khác cho thấy tác giả tận dụng triệt để vốn tri thức Tây học. Đưa ra các lý luận sơ giản và các tri thức chung nhất về ngụ ngôn là một đóng góp về thể loại.
“Nói ngay hay trái tai”. Cái trò đời xưa này vẫn thế, cứ đem một sự thực chần chẫn ra mà dạy người, có phần hơi ép uổng không được dễ dàng. Cách ngôn huấn ngôn dạy nhời nào chẳng quý hóa, chẳng khâm phục, song nó vẫn như còn treo cao, còn để xa, không được thiết tha gần nhân tâm cho lắm. Nên nghiêm trang chính đính mà dạy Đạo đức là một cách, thì vui cười hỉ hả mà dạy Đạo đức là một cách khác, và cách sau đem so với cách trước, có phần dễ được việc, chóng nên công hơn. Viên thuốc để chữa bệnh mà phải bọc vỏ ngoài cho đẹp như viên kẹo mới dễ khiến người nuốt, thì sự Chân lý muốn cho dễ thấm thía vào tâm linh người ta, cũng phải lựa một con đường nào cho dễ đi, cho chóng lọt vào đến nơi được.
Thật khó mà có cách nào lý giải sức sống và vai trò của ngụ ngôn hay hơn như vậy được! So sánh sự tương đồng khác biệt giữa ngụ ngôn phương Đông và phương Tây, ông còn đưa ra những nhận định có thể nói đã chạm đến quy luật chung nhất của sáng tạo nghệ thuật:
…Chẳng qua các nhà ngụ ngôn nước này với nước khác cùng diễn một cái tư tưởng giống nhau, chỉ có cái tiếng nói, cái văn thể là không giống nhau mà thôi? Đã sinh ra làm người, văn minh, học thức dù có khác nhau, nhưng đâu cũng là người, có tư lự thất tình in như nhau cả.
Những so sánh ấy phải là kết quả của sự thông kim bác cổ, học Đông đọc Tây. Tuy “diễn ra” bằng một giọng văn nôm na với hơi hướng cổ mà ta thường thấy trong các tác phẩm văn chương đầu thế kỷ, nhưng những tri thức ấy không khác xa với chân lý chung và lý luận thể loại mà ngày nay chúng ta công nhận.
3.2.2. Nhận thức về nguồn gốc văn học dân gian
Không rõ Nguyễn Văn Ngọc có đọc những tranh luận một thời giữa các nhà Folklore thế giới về nguồn gốc của truyện cổ, nhưng trong Lời nói đầu tập Truyện cổ nước Nam, ông đã đưa ra những nhận định tuy chưa rõ ràng nhưng khá chính xác về nguồn gốc truyện cổ Việt Nam:
Còn những truyện cổ chúng tôi sưu tập đây, chúng tôi dám quyết rằng thật là của riêng nước Nam, tự người Nam sáng tác, xuất sản ra, chứ không phải đi vay, đi mượn, nhờ vả vào ai được… Giản hoặc có một đôi truyện, phảng phất tương tự giống như truyện Tàu, thì chẳng qua cũng chỉ là bất kỳ ngẫu nhiên mà thôi. Còn bảo có nhiều truyện tất đã chịu một cái ảnh hưởng xa xôi tự ngoài đem vào, thì cái ảnh hưởng đó chắc là do từ đạo Phật bên Ấn Độ tràn sang, hơn là của đạo Khổng bên China đưa lại.
Một mặt, nhận định trên phản đối lại nhiều quan điểm cho rằng tinh hoa nước Nam đều do vay mượn. Mặt khác, nhận định này có nhắc đến hai nền văn minh lớn có ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam là Trung Hoa và Ấn Độ, và nói rõ: ảnh hưởng xa xôi từ đạo Phật bên Ấn Độ và sau đó là của đạo Khổng bên China đưa lại, điều này cũng lật ngược lại quan niệm cho rằng Việt Nam là mô hình của Trung Hoa và ảnh hưởng toàn bộ của Trung Hoa.
Sau này, trong Lời tựa cho cuốn “Chuyện cổ tích Việt Nam mang màu sắc Phật giáo” (Thượng tọa Thích Trung Hậu), Cao Huy Thuần tỏ ra tương đắc với những lời trên của cụ Ôn Như và tìm được ở đó điểm tương đồng với ý kiến nhiều học giả phương Tây về nguồn gốc Ấn Độ của một số truyện cổ châu Âu.
3.2.3. Nhận thức về giá trị văn học dân gian
Trong việc nhận thức về vai trò văn học dân gian, Nguyễn Văn Ngọc có một đóng góp quan trọng là đã đem lại vị trí xứng đáng cho văn học dân gian trong kho tàng văn hóa dân tộc.
Trước hết đó là công lao trả lại vị trí cho “người chân lấm tay bùn” – chủ nhân của văn học dân gian:
Ôi! Nhưng nghĩ kĩ, sở dĩ thành được nước Nam, nước Nam sở dĩ còn được đến nay, thật gốc như ở bọn dân đen cổ lỗ, chất phác, “khố rách áo ôm” ấy nhiều…
Theo ông, văn học dân gian có những giá trị to lớn:
Thứ nhất, nó giúp tạo ra và gìn giữ lại tiếng Nam, một thứ tiếng nó làm cho nước Nam mới thật là nước Nam: Sở dĩ thành được văn Nam, văn Nam sở dĩ còn lưu đến nay, tất phải nhờ vào những tiếng, những câu, những nhời, truyện sinh sản từ những chốn quê mùa cuc mịch, ngõ hẻm hang cùng của những bọn cổ lỗ chất phác, khố rách áo ôm ấy mà ra.
Thứ hai, là những truyện thực do người Nam xuất sản ra, truyện cổ lưu giữ tâm lý con người An Nam, bản sắc Việt Nam: chúng tôi đề nhan quyển truyện cổ này là Truyện cổ nước Nam thật không lấy làm hổ thẹn với ngòi bút, mà lại như muốn phô trương tỏ rõ rằng nước Nam ta cổ là ở đó, xưa văn minh sớm hơn người ở như đó, và nay già cỗi chậm hơn người có nhẽ cũng vì đó… Tinh thần người Nam hiện ra ở đấy, tinh hoa nước Nam muốn lưu lại cũng ở đấy. Những nhận định đó ẩn chứa niềm tự hào song cũng rất tỉnh táo chứ không sùng bái giá trị của dân tộc. Việc tiếp cận văn học dân gian từ góc nhìn văn hóa, dân tộc học để khẳng định giá trị văn hóa của văn học dân gian là một điểm mới đem lại đóng góp đáng kể cho lịch sử nghiên cứu truyện cổ nước Nam.
Thứ ba, như một hệ quả, văn học dân gian có tác dụng giáo hóa sâu sắc tới thế hệ người Nam mới trong việc học tập tiếng Việt, thu nhận và gìn giữ tài sản của ông cha. Nhận thức được vai trò ấy, Nguyễn Văn Ngọc chủ trương đưa ngụ ngôn, truyện cổ, tục ngữ phong dao vào sách giáo khoa quốc ngữ văn, gắn văn học dân gian với công tác giáo dục. Và điều tâm huyết nhất của ông, chúng tôi sẽ nói thêm ở mục sau, chính là thông qua nguồn tri thức dân gian này để giúp các bạn thiếu niên học vững tiếng Việt, hiểu rõ dân tộc mình để biết “ta là ta, ta không phải là ai khác” giữa thời buổi giao thoa.
3.3. Áp dụng phương pháp mới mẻ, đúng đắn và hiệu quả trong sưu tầm văn học dân gian
Chỉ đến khi có ảnh hưởng của Tây học, các nhà sưu tầm văn học dân gian Việt Nam mới có khái niệm “điền dã”. Trương Vĩnh Kí đã có ý thức nghe ngóng, sưu tầm truyện cổ trong dân gian. Huỳnh Tịnh Của lại san định biên soạn nhiều hơn, đến Nguyễn Văn Ngọc thì ông đã áp dụng phương pháp và thao tác sưu tầm của Folklore, dân tộc học Pháp nhiều và thành công hơn cả.
Tác giả Trần Thị An trong bài viết “Văn bản hóa truyện dân gian Việt Nam – nhìn từ cuối thế kỉ XX” đã đánh giá Nguyễn Văn Ngọc như là người đột phá trong việc áp dụng các thao tác văn bản hóa truyện dân gian. Trong Lời nói đầu của mình, Ôn Như tường thuật rất cụ thể công việc của ông: từ việc ông ý thức rõ môi trường tồn tại của truyện cổ (lưu truyền trong dân gian), tính dị bản của văn học dân gian… đến việc ông bỏ công nhiều công sức để nghe ngóng, ghi chép, thống kê so sánh các bản kể giống nhau nhằm tìm ra một lối kể xuôi lọt nhất:
Những truyện chúng tôi nhặt ở đây, hầu hết là còn ở trong tiếng nói hơn ở trong chữ viết, xưa nay chỉ mới được người kể cho tai nghe, chứ chưa mấy ai chịu nhặt nhạnh biên chép, ấn hành thành sách vở (có được ít nào, thì người Pháp lại tò mò ghi chép cho người Nam xem)
Nhiều dị bản: dài ngắn khôn đo, thêm bớt khó liệu, đầu Ngô mình Sở, râu ông nọ cắm cằm bà kia… Nên khi sưu tập chúng tôi phải hết sức nghe người này, hỏi người nọ, tìm nơi này, lục nơi khác, đắn đo so sánh, suy xét, cân nhắc từng li từng tí, sau mới dám hạ bút châm chước mà dàn xếp, mà phô diễn, mà sửa sang, mà trau mài cho thành được câu chuyện có đầu có đuôi, có ý nghĩ, có kỳ thú, có văn vẻ.
Không chỉ áp dụng phương pháp sưu tầm mới, Nguyễn Văn Ngọc còn thận trọng trong việc san định để giữ lại nhiều nhất vẻ hồn nhiên tươi mát như là bản chất và sức sống của văn học dân gian. Công phu ấy chỉ có thể có ở một niềm say mê lớn, một tinh thần trách nhiệm cao và một tinh thần xả thân nữa, cho nhiệm vụ mà ông coi là nghĩa vụ với tổ tiên.
Những phương pháp mà ông áp dụng cho đến nay chúng ta vẫn áp dụng. Và tính theo thời gian, việc ông sớm nhận thức và áp dụng phương pháp mới vào việc sưu tập văn học dân gian đã cứu cho vốn dân gian của dân tộc một nguy cơ mất mát lớn. Tư liệu ông sưu tập được rất nhiều công trình san định sau này tham khảo và sử dụng.
3.4. Tâm huyết với dân tộc và khát vọng cống hiến của người trí thức trong buổi giao thoa kim cổ, Đông Tây
Lao mình vào công tác giáo dục, Nguyễn Văn Ngọc đã tỏ rõ ước nguyện muốn góp phần tạo ra những thế hệ người Việt Nam giàu tri thức để có thể xây dựng và bảo vệ bản sắc dân tộc.
Không tiếc công sức trong việc sưu tầm, biên soạn, ấn hành các công trình, Nguyễn Văn Ngọc cũng bày tỏ ước nguyện lưu giữ lại vốn cổ và truyền bá chúng cho thế hệ sau. Trong các Lời tựa, ông không bao giờ nhận rằng công việc mình làm vậy là đã xong, ông hiểu công việc tồn cổ, không bảo một người hay năm ba người, một lúc mà làm nổi.
3.4.1. Bày tỏ rõ ước nguyện của mình trong Lời tựa chính là một cách Nguyễn Văn Ngọc đối thoại với công chúng:
Còn mục đích cuốn sách, thì cốt ở một điều là cứ theo như cái phong trào có mới nới cũ ngày nay, ai là người đã lưu tâm đến quốc văn, quốc túy mà không lo sợ rằng những câu lý thú tối cổ của ông cha để lại, tức là cái kho vàng chung cho cả nhân loại, nếu không chịu mau mau thu nhặt, giữ gìn lấy, thì rồi tất mỗi ngày một sai suyễn, lưu lạc đi, thực là rất đáng tiếc.
Cho nên chúng tôi quả không dám kén chọn lựa lọc, “san thi” gì. Chúng tôi chỉ vụ thu thập cho được nhiều câu, không phân biệt thế nào là thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao gì cả. Đối với công việc sưu tập bây giờ, thiết tưởng ta còn phải quý hồ đa trước rồi nhiên hậu mới có nơi khảo cứu mà quý hồ tinh được.
… chúng tôi chỉ mới có cái chủ nghĩa tồn cổ, nên tìm kiếm được câu nào là góp nhặt câu ấy, sợ sau này không biết thu thập vào sách nào để lưu lạc đi mất, thì cũng là đáng tiếc.
Mục đích “quý hồ đa” cho thấy cách ứng xử hiệu quả và kịp thời của nhà trí thức khi vốn cổ đang có nguy cơ mai một mà sức một người có hạn, chỉ nội việc thu thập và ghi chúng lại e cũng chưa thể hoàn toàn. Ông luôn đề lên “chủ nghĩa tồn cổ”, nêu ra như nghĩa vụ thiêng liêng, nhằm bộc bạch tâm tư mình, mà cũng là thức tỉnh ý thức của công chúng.
Nếu chúng tôi làm quyển “Tục ngữ phong dao”, trên đối với tổ tiên mà giữ được cái nghĩa vụ cổ, dưới đối với quốc dân mà giúp được ít tài liệu trong khoa ngôn ngữ, trong bài văn thi, thì cái công chúng tôi sưu tầm và biên tập trong mấy năm nay cũng không uổng, mà chúng tôi đã tự lấy làm hân hạnh vui lòng rồi. (Tục ngữ phong dao, quyển 1)
3.4.2. Đặc biệt, Nguyễn Văn Ngọc luôn chú ý tới lớp độc giả là thế hệ trẻ mà ông gọi bằng cụm từ thân thiện là “các bạn thiếu niên”. Trong tất cả các công trình của mình, ông đều bộc bạch ước nguyện là các bạn thiếu niên sẽ sử dụng công trình đó mà học tiếng Việt và hiểu chính dân tộc mình. Điểm này phải chăng là sự gặp gỡ giữa Nguyễn Văn Ngọc và các nhà văn hóa lớn khác như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh trong việc yêu mến, tin tưởng và mong chờ ở thế hệ trẻ.
… Dám mong rằng độc giả chỉ bảo giúp để đính chính lại, để bổ cứu vào, cố vun trồng cái Văn Việt Nam của tổ tiên xưa được chắc rễ, bền cây; ngộ sau này nhờ cây ấy mà nở nhành xanh ngọn, thêm tươi thêm tốt, có bổ ích chút nào cho bạn thiếu niên ta chăng. (Tục ngữ phong dao, quyển 2)
Ước nguyện ấy thống nhất trong mọi lời văn, ý tứ của cụ Ôn Như. Cuối mỗi Lời nói đầu đều có lời ngỏ mong độc giả góp ý sửa chữa và phát triển những gì cụ đã làm được. Đặc biệt hơn, trong Truyện cổ nước Nam, cụ còn thể hiện mong muốn truyền bá vốn cổ bằng những chỉ dẫn cụ thể:
Nên chúng tôi hết lòng sốt sắng thành thực dám ước ao rằng những sĩ phu đâu đó trong nước, nên lưu tâm mà thu thập lấy những nhời cổ, những truyện cổ hiện còn có thể thu thập được.
Chúng tôi lại mong có nhiều người thích xem, thích kể truyện cố, sau gây nên một hạng người sành truyện cổ
Các nhà văn sĩ bây giờ có thể nhân đây, biến hóa, bày đặt ra nhiều lối văn mới khác, mà không phải cứ ép mình, cúi đầu đi mượn bao nhiêu cốt cách, điển tích của người ngoài.
Những dòng tâm huyết ấy, hơn bất cứ một áng văn chương nào, “khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán”, khả dĩ động vào tận tâm và trí của người Nam đang khi họ phải đi tìm một con đường để tồn tại cho chính mình, cho dân tộc và cho cả quá khứ mấy ngàn năm văn hiến.
3.4.3. Trong lời ngỏ cùng độc giả, cụ Ôn Như luôn chú ý dùng ngôn ngữ giản dị, trong sáng với giọng tâm tình tha thiết. Đó là một thứ giọng thuần An Nam, dân dã và cầu nhất cho người ta hiểu mình chứ không cầu cho thật sang, thật thâm thúy. Đây vừa là nhiệt tâm của người muốn truyền bá, vừa là phẩm chất của nhà sư phạm, tạo nên một ý thức hướng vào độc giả rất rõ rệt.
Ý thức truyền bá hướng và đối tượng công chúng rộng rãi chính là một điểm mới trong các ấn bản thời kỳ này, nhưng cũng là một nét riêng trong các công trình của cụ Ôn Như.
Sự phát triển của in ấn dẫn đến nhu cầu đọc tăng lên trong đối tượng ngày càng rộng, và biên soạn xuất bản sách trở thành một nghề… những điều đó thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động khoa học: dịch và truyền bá khoa học nước ngoài (cả phương Tây, Trung Hoa, Ấn Độ…), sưu tầm vốn cổ, nghiên cứu phê bình, sáng tác… Trong bối cảnh ấy, sử dụng chữ quốc ngữ, sử dụng công nghệ ấn loát, nhiều người có tâm với vốn cổ đã bỏ công sưu tầm công bố các giá trị văn chương, âm nhạc… của dân tộc để vừa lưu giữ chúng trong thời buổi “kim muốn nuốt cổ”, vừa nhắc nhở người Nam về những giá trị “nó làm cho người Nam là người Nam chứ không phải ai khác”. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc đã triệt để thực hiện điều đó bằng việc công bố rất nhiều công trình biên soạn sưu tập trong cuộc đời mình – một khối lượng công việc đáng nể, một tấm gương cho “các bạn thiếu niên” đương thời và cho các thế hệ người Việt về sau.
III. KẾt luẬn
Trong lý thuyết về tiếp xúc văn hóa của nhà nghiên cứu Phan Ngọc, các cá nhân ưu tú có khả năng vượt gộp giá trị văn hóa cổ kim, nội sinh ngoại lai… chính là những hạt nhân xúc tiến thành công quá trình tiếp xúc của một nền văn hóa với nền văn hóa khác, bằng cách dùng chính năng lực cá nhân để thâu thái cái mới, biến đổi cái cũ và tạo nên những sản phẩm nội địa thế hệ mới có chất lượng vượt trội. Việt Nam đầu thế kỷ XX sở dĩ có thể thành công trong việc hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc, như họ đã thành công trong tiếp xúc văn hóa với Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Hoa trước đó, chính là nhờ các cá nhân Việt đầy tài năng và tâm huyết như Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Ngọc….
Nhìn chung, Lời nói đầu là phần được cụ Ôn Như rất chú tâm. Điều này một mặt thống nhất với phong cách làm việc thận trọng tỉ mỉ của cụ trong mọi công trình, một mặt cho thấy cụ trông chờ rất nhiều vào những Lời phi lộ như thông điệp đầy tâm huyết tới độc giả.
Từ những phần viết vừa mang tính văn học, vừa mang tính khoa học ấy, chúng ta nhận thấy nhiều điểm ưu trội và đóng góp của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc với tư cách một người Nam, một nhà trí thức tự tìm cho mình một hướng đi để cống hiến cho quốc dân, quốc hồn quốc túy.
1. Ông là người nhận thức đúng bản chất thời đại và những mối nguy lớn đối với văn hóa dân tộc. Từ đó, ông nhận ra vai trò lịch sử của văn học dân gian với tư cách là thứ văn chương bảo tồn lưu truyền bản sắc tinh hoa của dân tộc. Với độ nhạy cảm nhất định, ông đã xác định đúng một trong các thao tác cấp thiết để tìm đường đi cho văn hóa dân tộc là bảo tồn và truyền bá vốn văn chương dân dã ấy nhằm cân bằng với làn sóng phương Tây vẫn ào ạt tràn vào.
2. Với trình độ Nho học và Tây học tương đối vững, với tâm huyết và trách nhiệm, Nguyễn Văn Ngọc đã sử dụng những thao tác, phương pháp đúng đắn nhất hiện thời để làm công việc sưu tầm, biên soạn, ấn hành vốn văn học dân gian của người Việt. Chính nhờ phương châm “quý hồ đa”, tạm thời gác lại việc nghiên cứu, phân loại, bình luận, xác minh thật kĩ càng, Nguyễn Văn Ngọc đã để lại cho hậu thế vốn tư liệu phong phú, bề bộn và rất gần với dạng thức tồn tại vốn có trong thực tế. Giá trị lịch sử của tư liệu là một đóng góp vô giá cho lịch sử văn học dân gian, đáng để thế hệ sau ghi nhận tên tuổi của ông như một dấu mốc trong Folklore học của Việt Nam.
3. Sự nghiệp cả cuộc đời ông là minh chứng cho một lối ứng xử và một nhân cách đáng trân trọng. Lựa chọn con đường khoa học và giáo dục, Nguyễn Văn Ngọc tuy không trực tiếp tham dự vào vấn đề nổi cộm nhất của thời đại là đấu tranh cho độc lập dân tộc nhưng cũng đã không sống uổng, sống phí và không hoang mang bơ vơ khi đất nước đang ở thời giao thoa cũ - mới, lẫn lộn hay – dở… Ông đã chọn và đã trung thành với hướng đi ấy hết cuộc đời mình, vì thế ông đã tạo ra được những đóng góp. Ấy âu cũng là một bài học về lẽ ứng xử cho hậu thế.
*
* *
Bài viết này, chúng tôi xin coi như một Lời ngỏ gửi tới các vị tiền bối. Tác giả bày tỏ lòng trân trọng với những nhân cách như Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc. Chính cuộc đời ông cũng đã là một Lời ngỏ, một bài học cho “các bạn thiếu niên” hôm nay khi đi tìm một lối ứng xử thích hợp cho cuộc đời mình. Ông đã trở về cát bụi, nhưng những gì ông để lại thì trở thành giá trị thiên thu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thanh Hiền (st – bs – gt), Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc toàn tập, tập 1 (Đông Tây ngụ ngôn). NXB Văn học, 2003.
2. Lê Thanh Hiền (st – bs – gt), Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc toàn tập, tập 2 (Cổ học tinh hoa, Đào nương ca, Nam Việt thi tuyển, Câu đối). NXB Văn học, 2003.
3. Lê Thanh Hiền (st – bs – gt), Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc toàn tập, tập 3 (Truyện cổ nước Nam 1,2, Tục ngữ phong dao 1,2). NXB Văn học, H.2003.
4. Viện Văn học, Nhìn lại Văn học Việt Nam thế kỷ XX. NXB Chính trị Quốc gia, H.2002.
5. Cao Huy Thuần, Giới thiệu sách “Những chuyện Cổ tích Việt Nam mang màu sắc Phật giáo”, http://www.dunglac.net. Paris, 2004 |