Ngôn ngữ

Tìm kiếm

11/9/2010   
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ VIỆC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH THỰC TẾ CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI  
(22/9/2009)

Chương trình thực tế và việc đưa những kiến thức thực tế vào giảng đường là công việc có ý nghĩa lớn đối với việc đào tạo của các trường đại học, Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hiện nay. Đặc biệt với ngành Việt Nam học, một ngành học mang tính chất liên ngành cao, việc cung cấp cho sinh viên những kiến thức thực tế và cơ hội được thực hành, được vận dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tế càng có ý nghĩa quan trọng để nâng cao cả kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp cũng như cơ hội tìm kiếm việc làm trong tương lai. Báo cáo này tập trung vào việc xây dựng một chương trình thực tế hoàn chỉnh cho sinh viên của khoa Việt Nam học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội để đáp ứng với nhu cầu và mục tiêu đào tạo của Khoa.


1. Ý nghĩa của việc thực tế đối với sinh viên khoa Việt Nam học

 “Học đi đôi với hành” là một trong những phương châm đào tạo của nhiều cơ sở đào tạo các cấp. Đặc biệt với các trường đại học, Cao đẳng, việc gắn đào tạo trên giảng đường với các chương trình thực tập, thực tế càng có ý nghĩa quan trọng. Trong quá trình đổi mới chương trình và phương pháp dạy học ở các trường chuyên nghiệp, hoạt động thực tế càng được chú ý hơn vì nó gắn chặt với việc thực hiện kĩ năng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường. Có thể thấy rõ hoạt động thực tế có rất nhiều ý nhĩa với việc học tập và rèn luyện của sinh viên, nhất là sinh viên khoa Việt Nam học

- Trước hết, các đợt thực tế là cơ hội để sinh viên của khoa Việt Nam học có điều kiện tiếp xúc với những kiến thức thực tế. Những bài học lịch sử, địa lý, văn hóa, du lịch chắc chắn sẽ sinh động và giàu sức thuyết phục hơn nhiều nếu sinh viên được tiếp nhận không chỉ trên giảng đường mà thông qua những sự vật, hiện tượng, những sự kiện có thật của cuộc sống

- Trong các đợt thực địa, bên cạnh vấn đề về kiến thức, sinh viên cũng được rèn luyện các kĩ năng liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai của mình. Hiện nay, khoa Việt Nam học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đang đào tạo với 3 định hướng nghề nghiệp chính trong tương lai: 1. Nghiên cứu và tổ chức và thực hiện các sự kiện văn hóa; 2. Hướng dẫn và kinh doanh du lịch; 3. Báo chí (chủ yếu là báo viết). Cả 3 định hướng này đều đòi hỏi sinh viên có kiến thức vừa mang tính liên ngành vừa mang tính thực tiễn cao. Trong các đợt thực địa, sinh viên có thể áp dụng những kĩ năng đã học trên lớp vào thực tiễn, thông qua việc thực tập thiết kế các tour du lịch, thực tập hướng dẫn khách du lịch tại các điểm du lịch cụ thể, hay thực hành nghiên cứu điền dã, một kĩ năng cơ bản của nghiên cứu văn hóa. Trong các chuyến đi, tại các địa điểm thực tế, sinh viên cũng có thể tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin để viết các bài báo. Các thao tác, kĩ năng của các bạn sẽ được giáo viên hướng dẫn, giám sát, và chỉnh sửa kịp thời. Nhờ vậy, sinh viên sẽ không bỡ ngỡ khi đi thực tập cuối khóa hay khi làm việc thực tế.

- Các đợt thực địa cũng là khoảng thời gian các bạn được sống trong không khí tập thể. Thông qua các chuyến đi này, các bạn được học cách sống và làm việc theo tập thể, theo nhóm, học cách tổ chức cuộc sống cho mình và cho cả đoàn. Thậm chí với một số bạn, đây còn là cơ hội để bạn thực hành khả năng tổ chức cuộc sống cho cả nhóm, cả đoàn. Ý thức và tính thần đoàn kết giữa các thành viên sẽ được củng cố và nâng cao, Vai trò của tập thể, của các tổ chức Đoàn TN, Hội sinh viên được thể hiện rõ rệt và khả năng của từng cá nhân có điều kiện được phát huy.

Như vậy, với những vai trò như đã kể trên, hoạt động thực tế có ý nghĩa quan trọng đối với các sinh viên Việt Nam học, cả về kiến thức, kĩ năng trong công việc cũng như trong cuộc sống. Bởi vậy, việc mở rộng các họat động này trong chương trình đào tạo của khoa là việc cần thực hiện.

2. Tình hình thực tế của sinh viên khoa Việt Nam học hiện nay.

Việt Nam học là một ngành khoa học còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Riêng với trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Việt Nam học là một trong những khoa trẻ nhất trường. Với việc ý thức khá rõ vai trò của hoạt động thực tế đối với việc đào tạo tại Khoa, ngay từ khi mới thành lập, lãnh đạo và các giảng viên của Khoa đã cố gắng lồng ghép các nội dung liên quan đến thực tiễn vào nội dung chương trình tổng thể cũng như của các môn học. Qua nhiều lần chỉnh sửa, cho đến nay, các hoạt động thực tế đã có một chỗ đứng đáng kể trong chương trình đào tạo của Khoa. Khoa Việt Nam học là một trong số ít các Khoa trong trường có nội dung thực tế chuyên môn được đưa thành một học phần riêng. Với chương trình đào tạo hiện nay, chương trình thực tế của sinh viên Khoa Việt Nam học được tách thành 3 học phần trong các kì học 2, 4 và 6, mỗi học phần 2 đvht. Trong tương lai, khi việc đào tạo theo hình thức tín chỉ được thực hiện, thực tế cũng là học phần thuộc khối kiến thức chuyên ngành bắt buộc của Khoa với 3 học phần, mỗi học phần 1 tín chỉ. Các học phần này thường được tổ chức thành các chuyến đi theo các chuyên đề cụ thể đến các vùng khác nhau của đất nước. Trong các chuyến đi có sự kết hợp giữa các giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn (tùy theo từng nôi dung các học phần tương ứng) trong công tác tổ chức, quản lý và hướng dẫn thực tế cho sinh viên. Sau các chuyến đi thực tế này, tất cả các bạn sinh viên đều phải viết một báo cáo thực tế và được đánh giá bới các giáo viên chuyên môn. Trong kinh phí đào tạo thường xuyên của Khoa, phần chi tiêu dành cho các chuyến đi thực tế cũng chiếm một tỉ lệ tương đối lớn. Từ khóa sinh viên đầu tiên (K52) đến nay (k58), hoạt động này được duy trì đều đặn. Sinh viên Việt Nam học đã có điều kiện tìm hiểu thực tế ở khá nhiều địa phương trong cả nước: Hà Nội, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hải Dương, Quảng Ninh, và nhất là chuyến đi dọc Miền Trung vào tới Phố cổ Hội An (Quảng Nam), qua rất nhiều các địa danh của đất nước.

Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng chương trình tổng thể, ở nội dung mỗi môn học cụ thể, các chuyên gia và các giảng viên cũng cố gắng lồng ghép nhiều nội dung liên quan đến thực tế vào nội dung giảng dạy. Các môn học như Lịch sử Việt Nam, Địa lý Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hán Nôm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Các dân tộc ở Việt Nam, Hà Nội học, Văn học dân gian Việt Nam… đều có thời lượng dành cho các hoạt động thực tế. Đặc biệt các học phần liên quan đến nghiệp vụ như du lịch và báo chí thì phần thực tế là tương đối lớn. Các sinh viên được tham gia những chuyến đi ngắn (thường một buổi hoặc một ngày) tới các địa điểm thực tế như các bảo tàng, các làng nghề, các địa điểm văn hóa – lịch sử để tìm hiểu thực tế và thực hành kĩ năng nghề nghiệp. Các chuyến đi này bao giờ cũng có các giáo viên giảng dạy đi kèm để hướng dẫn các bạn tìm hiểu, giám sát và chỉnh sửa công việc thực địa của các bạn.

Các sinh viên của Khoa Việt Nam học cũng có thái độ khá tích cực với các chuyến đi thực tế này. Các bạn đều rất háo hức mong chờ các chuyến đi và chuẩn bị tương đối tốt cho các chuyến đi này, cả về kiến thức cũng như cách thức tổ chức. Đội ngũ cán bộ lớp đã trợ giúp đắc lực cho các giáo viên trong công tác tổ chức. Đặc biệt, trong hầu hết các khóa sinh viên đều xuất hiện các nhóm chuyên môn như nhóm du lịch, báo chí… tương đối tích cực trong các hoạt động thực tế. Thậm chí một số nhóm du lịch đã giúp các giáo viên trong việc thiết kế và hướng dẫn các tour du lịch cho sinh viên của khóa mình hay các khóa sau. Đây là một hoạt động đáng được động viên, khích lệ.

Tuy nhiên, chất lượng của các chương trình thực tế của sinh viên thường không cao. Điều này được lý giải bởi ý thức và nhận thức của các bạn về việc thực tế. Ngoài một số bạn khá tích cực, hầu hết các bạn sinh viên đều quan niệm các đợt thực tế này là các chuyến đi chơi, đi du lịch hơn là những cơ hội để thu nhận kiến thức và rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp. Mặc dù đã có sự hướng dẫn và giám sát của các giáo viên nhưng hầu hết các bạn chưa có thái độ thực sự nghiêm túc trong thực tế, nhất là khi một số giáo viên tỏ ra tương đối dễ dãi với sinh viên. Các báo cáo thực địa của các bạn cũng còn mang nặng tính đối phó và không biểu hiện rõ những kết quả mà các bạn thu nhận được trong thực tế chuyến đi. Đây là một hạn chế lớn của chương trình thực tế môn học của sinh viên. Hơn nữa, khoảng thời gian dành cho các chuyến đi là tương đối ngăn, khiến cho cơ hội được tiếp cận với thực tế của sinh viên khá ít ỏi. Điều này khiến cho những kiến thức thực tiến của sinh viên trong Khoa còn khá nghèo nàn. Đây là một trong những nhược điểm của sinh viên trong Khoa.

Hàng năm, với mục tiêu đào tạo theo nhu cầu của thị trường việc làm, Khoa Việt Nam học trường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm với các cơ sở thực tập và các nhà tuyển dụng nhằm lắng nghe những ý kiến của các cơ sở này về chất lượng đào tạo của Khoa và những yêu cầu của họ nhằm có những sửa đổi hợp lý về công tác đào tạo. Thông qua các ý kiến trao đổi, một nhận xét chung thường thấy là việc họ đánh giá rất cao nền kiến thức của sinh viên Khoa Việt Nam học. Nhưng cũng theo những ý kiến này, hạn chế lớn nhất của sinh viên trong Khoa chính là việc thiếu những kiến thức thực tiễn và chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thực hành những kĩ năng nghề nghiệp. Tác phong làm việc của các bạn còn thiếu tính chuyên nghiệp và khá thụ động. Trong khi đó, các sinh viên của các trường lân cận (Đại học Văn hóa, Đại học KHXH&NV, Cao đẳng Du lịch…) dù kiến thức không sâu và chắc như sinh viên Việt Nam học nhưng lại tỏ ra năng động và kinh nghiệm hơn nhiều. Điều này có thể lý giải bằng đặc trưng đào tạo của các trường là rất khác nhau. Trong môi trường Sư phạm, các sinh viên của Khoa Việt Nam học dường như bị ảnh hưởng bởi tâm lý ỉ lại và thụ động. Ngay trong các chuyến đi thực tế thì phần lo lắng và chuẩn bị của các giáo viên cũng quá nhiều khiến cho các bạn có cảm giác được “bao bọc” quá kĩ. Còn ở các trường khác, giáo viên chỉ chịu trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, còn các vấn đề khác, sinh viên hoàn toàn phải tự lo, tự tổ chức và tự tiếp xúc thực tế. Đây cũng là một lý do khiến họ kinh nghiệm lơn và năng động hơn.

Với những phân tích ở trên, có thể thấy việc thay đổi quy trình thực tê của sinh viên Việt Nam học là một yêu cầu cấp thiết để chương trình đào tạo của Khoa gắn chặt với thực tế hơn, để sản phẩm đào tạo của Khoa có khả năng đáp ứng tốt hơn với nhu cầu của công việc trong tương lai.

3. Một số đề xuất cho việc xây dựng chương trình thực tế cho sinh viên Khoa Việt Nam học

3.1. Mục tiêu tổng quát cho chương trình thực tế:

- Giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp xúc với thực tế của đất nước, từ đó kiểm nghiệm và bổ sung những kiến thức đã tiếp thu được trên giảng đường, trong tài liệu, giáo trình và các nguồn thông tin khác

- Là cơ hội để sinh viên thực hành các kĩ năng về nghiên cứu và các kĩ năng khác liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai

- Giúp cho sinh viên có kinh nghiệm xử lý các tình huống nảy sinh trong thực tế, chuẩn bị cho việc thực tập và làm việc sau này

3.2. Quy trình cụ thể của các chuyến đi thực tế của sinh viên

3.2.1. Các chuyến đi thực tế do Khoa tổ chức

- Các chuyến đi này được tổ chức hàng năm, thường vào khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4 của các học kì 2, 4 và 6. Mỗi chuyến đi đều tuân thủ theo quy trình, bao gồm cả các công tác trước, trong và sau các chuyến đi. Yêu cầu đối với các sinh viên trong các chuyến đi này khác nhau qua các năm (yêu cầu này sẽ được cụ thể hóa ở phần sau)

- Sau chuyến đi thực tế

+ Mỗi sinh viên (hoặc các nhóm sinh viên) phải viết một báo cáo dựa trên cơ sở những kiến thức đã tìm hiểu trước, trong và sau quá trình thực tế. Trong báo cáo cần nhấn mạnh những kết quả đã thu nhận được thông quan các thao tác tiến hành trực tiếp trên địa bàn nghiên cứu.

+ Giáo viên tổ chức buổi lên lớp để các sinh viên trình bày các kết quả mình thu nhận được trong chuyến đi thực tế. Có thể chỉ yêu cầu một vài sinh viên trình bày, các sinh viên khác bổ sung hoặc trình bày theo nhóm. Trên cơ sở đó, giáo viên rút kinh nghiệm về chuyến đi, nhận xét về kết quả của chuyến đi và chấm điểm cho các sinh viên

- Đánh giá kết quả thực tế: có sự thống nhất giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn để đánh giá cả thái độ, tinh thần chuẩn bị trước, trong và sau chuyến đi cũng như chất lượng báo cáo. Cụ thể, tiêu chí đánh giá như sau:

+ Chuẩn bị thực tế: 30 %

+ Tinh thần, thái độ trong quá trình thực tế: 20%

+ Báo cáo thực tế: 50%

- Thời gian, lịch trình cụ thể, nội dung và yêu cầu của mỗi chuyến đi được thiết kế phù hợp với trình độ của sinh viên và chương trình đào tạo của Khoa trong năm học đó, cụ thể là

* Đối với sinh viên năm thứ nhất:

   - Các học phần yêu cầu thực tế: Lịch sử Việt Nam, Văn học dân gian và Cơ sở văn hóa Việt Nam

- Mục tiêu:

+ Giúp cho sinh viên có điều kiện làm quen với thực tế

+ Bước đầu học hỏi cách thức nghiên cứu thực địa

+ Thực tập một số thao tác nghiên cứu cụ thể

+ Kiểm nghiệm một số vấn đề lí thuyết, sách vở qua thực tế

- Thời gian chuyến đi: 1 hoặc 2 ngày

- Các địa điểm đề xuất: Những địa phương có nền văn hóa truyền thống phong phú, gắn với sự phát triển của lịch sử và văn hóa Việt Nam: Bắc Ninh, Phú Thọ, Ninh Bình, Hòa Bình…

- Các nội dung và yêu cầu cụ thể cho chuyến đi:

+ Chuẩn bị (tiền thực địa)

·   Thời gian, lịch trình và liên hệ cho sinh viên đến thực tế: do giáo viên đảm nhiệm (có thể đề nghị sự hỗ trợ của sinh viên các khóa trên hay các sinh viên có điều kiện liên hệ)

·   Về các kiến thức trước khi đi thực tế: giáo viên sẽ có buổi thuyết trình trước sinh viên, giới thiệu về đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội… một cách tổng quát của địa điểm sẽ đến thực tế. Tùy theo điều kiện thực tế và yêu cầu của môn học, giáo viên có thể thiết kế một số vấn đề, yêu cầu sinh viên chuẩn bị trước và trình bày ngay tại buổi thuyết trình này. Đồng thời nhắc nhở sinh viên về thời gian, lịch trình, các quy định trong chuyến đi thực tế và nội dung các cong việc các em cần tiến hành trong quá trình thực tế, chia nhóm (nếu có). Giáo viên hướng dẫn cụ thể về các thao tác trong quá trình nghiên cứu thực tế và các yêu cầu cần đạt được.

+ Trong quá trình thực tế

·   Giáo viên phổ biến lại các quy định và các nội dung yêu cầu sinh viên thực hiện trong chuyến đi thực địa

·   Có thể liên hệ để tổ chức các buổi giao lưu, nói chuyện về lịch sử, văn hóa… để sinh viên có thêm thông tin về các địa điểm thực tế

·   Sinh viên thực tập các thao tác nghiên cứu dưới sự hướng dẫn, giám sát và chỉnh sửa của các giáo viên: ghi chép, phỏng vấn,… Nếu cần, giáo viên có thể làm mẫu ở trường hợp đầu tiên, sau đó yêu cầu sinh viên tự tiến hành

* Đối với sinh viên năm thứ hai:

- Các học phần yếu cầu thực tế: Lịch sử Việt Nam, Địa lý Việt Nam, Các dân tộc ở Việt Nam, Tổng quan du lịch

- Mục tiêu:

+ Giúp sinh viên tiếp cận với những kiến thức và những vấn đề thực tế của môn học, biết vận dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tế

+ Thực hành các kĩ năng liên quan đến các học phần đã học, trong đó chú ý kĩ năng liên quan đến du lịch

- Thời gian chuyến đi: 2 hoặc 3 ngày

- Các địa điểm đề xuất: Những nơi có phong cảnh tự nhiên đa dạng, phong phú và hấp dẫn, có văn hóa (nhất là văn hóa tộc người) độc đáo, đã được khai thác cho hoạt động du lịch: Ninh Bình, Quảng Ninh, Lào Cai, Lạng Sơn

- Các nội dung và yêu cầu cụ thể:

+ Chuẩn bị (tiền thực địa)

·   Thời gian, lịch trình và liên hệ cho sinh viên đến thực tế: do sinh viên thiết kế trên cơ sở sự hỗ trợ và tư vấn của giáo viên và các sinh viên khóa trên. Sinh viên phải thiết kế lộ trình và thời gian cụ thể, tự liên hệ các điểm đến, tính toán giá cả, các hoạt động cụ thể trong chuyến đi, các vấn đề phát sinh và cách thức giải quyết.

·   Về các kiến thức trước khi đi thực tế: giáo viên tổ chức buổi thuyết trình cho sinh viên. Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm đảm nhiệm một nội dung chuyên môn cụ thể: giới thiệu về đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội… một cách tổng quát của địa điểm sẽ đến thực tế; các nội dung chuyên môn liên quan đến các môn học hoặc liên quan đến 1 địa điểm cụ thể trong cả chuyến đi. Đồng thời nhắc nhở sinh viên về thời gian, lịch trình, các quy định trong chuyến đi thực tế và nội dung các công việc các em cần tiến hành trong quá trình thực tế. Giáo viên hướng dẫn cụ thể về các thao tác trong quá trình nghiên cứu thực tế và các yêu cầu cần đạt được. Giáo viên cũng kiểm tra và chỉnh sửa các công cụ mà sinh viên chuẩn bị cho chuyến đi thực địa (các câu hỏi điều tra, dụng cụ đo đạc…)

+ Trong quá trình thực tế

·   Giáo viên phổ biến lại các quy định và các nội dung yêu cầu sinh viên thực hiện trong chuyến đi thực địa

·   Có thể liên hệ để tổ chức các buổi giao lưu, nói chuyện về lịch sử, văn hóa… để sinh viên có thêm thông tin về các địa điểm thực tế (Do sinh viên tự liên hệ trong quá trình chuẩn bị)

·   Sinh viên chủ động thực tập các thao tác nghiên cứu dưới sự hướng dẫn và giám sát của các giáo viên: ghi chép, phỏng vấn, chụp ảnh tư liệu…

* Đối với sinh viên năm thứ ba:

- Các học phần yếu cầu thực tế: Du lịch Việt Nam, Văn hóa Việt Nam

- Mục tiêu:

+ Giúp sinh viên đi sâu, chủ động nghiên cứu thực tế để bổ sung cho những kiến thức đã học

+ Thực hành các kĩ năng liên quan đến các học phần đã học, trong đó đặc biệt chú ý đến những kĩ năng liên quan đến định hướng nghề nghiệp tương lai

- Thời gian chuyến đi: 5 hoặc 6 ngày

- Các địa điểm đề xuất: Chuyến đi có lộ trình dài, qua nhiều địa điểm nổi tiếng về giá trị văn hóa và du lịch: chuyến đi dọc “hành trình di sản” Miền Trung, đi dọc vùng Tây Bắc…

- Các nội dung và yêu cầu cụ thể:

+ Chuẩn bị (tiền thực địa)

·   Thời gian, lịch trình và liên hệ cho sinh viên đến thực tế: do sinh viên thiết kế trên cơ sở sự tư vấn của giáo viên. Sinh viên phải thiêt kế lộ trình và thời gian cụ thể, tự liên hệ các điểm đến, tính toán giá cả, các hoạt động cụ thể trong chuyến đi, các vấn đề phát sinh và cách thức giải quyết. Giáo viên sẽ theo dõi và có những hỗ trợ cần thiết

·   Về các kiến thức trước khi đi thực tế: giáo viên tổ chức buổi thuyết trình cho sinh viên. Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm đảm nhiệm một nội dung chuyên môn cụ thể: nhóm văn hóa tập trung nghiên cứu các vấn đề văn hóa, nhón du lịch tập trung vào việc hướng dẫn du lich trên xe hoặch tại các điểm đến, nhóm báo chí khai thác thông tin và viết bài. Mỗi nhóm trình bày cụ thể chương trình làm việc của mình. Giáo viên sẽ góp ý và chỉnh sửa

+ Trong quá trình thực tế

·   Giáo viên phổ biến lại các quy định và các nội dung yêu cầu sinh viên thực hiện trong chuyến đi thực địa

·   Giáo viên và sinh viên tổ chức các hoạt động liên quan đến các kĩ năng đã học: tổ chức cuộc thi các hướng dẫn viên du lịch giỏi…

·   Có thể liên hệ để tổ chức các buổi giao lưu, nói chuyện về lịch sử, văn hóa… để sinh viên có thêm thông tin về các địa điểm thực tế (Do sinh viên tự liên hệ trong quá trình chuẩn bị)

·   Sinh viên chủ động thực tập các thao tác nghiên cứu dưới sự giám sát của các giáo viên: ghi chép, phỏng vấn, chụp ảnh tư liệu…

Như vậy, thông qua các chuyến đi, các yêu cầu và nội dung công việc cần làm đối với thực tế của sinh viên ngày càng được nâng cao. Nhờ đó các bạn sẽ được tiếp xúc, cọ xát nhiều hơn với thực tế công việc và cuộc sống, giúp các bạn có nhiều kinh nghiệm xử lý các vấn đề, các tình huống nảy sinh trong thực tiễn cũng như thu nhận được nhiều kiến thức hơn từ thực tiễn. Vai trò của sinh viên và giáo viên cũng có sự chuyển biến rõ rệt. Với sinh viên năm thứ nhất, do các bạn còn thiếu kinh nghiệm và nhiều bỡ ngỡ cả trong kiến thức chuyên môn và thực tiễn cuộc sống nên các bạn chủ yếu học hỏi và bắt chước giáo viên. Sang năm thứ hai và nhất là năm thứ ba, vai trò chủ động sẽ được nhường dần cho sinh viên. Các bạn sẽ phải tự tổ chức chuyến đi, tự dự kiến và thực hiện các thao tác chuyên môn chứ không chỉ là sự bắt chước, rập khuôn theo giáo viên. Giáo viên từ vai trò chủ động tổ chức, dẫn dắt ở năm thứ nhất sẽ chuyển sang hướng dẫn ở năm thứ hai và tư vấn ở năm thứ ba. Những yêu cầu về sự thành thục trong các thao tác ngoài thực địa cũng như chất lượng của báo cáo thực tế cũng sẽ được nâng cao qua các năm.

3.2.2. Các buổi thực tế lồng ghép trong các môn học

Các buổi thực tế này được thiết kế trong nội dung các môn học của Khoa như Văn học dân gian Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Địa lý Việt Nam, Hán Nôm và đặc biệt các môn học mang tính chất chuyên sâu và gắn chặt với các hướng đào tạo nghề nghiệp như Văn hóa, Du lịch hay Báo chí.

Ở các môn học này, do hạn chế về thời gian và nhiều điều kiện khác, các buổi thực tế thường chỉ được tổ chức trong một thời gian ngắn (1 buổi hoặc 1 ngày). Các địa điểm được lựa chọn cũng chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, thường là trong phạm vi của thành phố Hà Nội, đặc biệt là các địa điểm gần trường, như các bảo tàng, Văn miếu – Quóc Tử Giám, Thăng Long tứ trấn, các làng nghề ở ngoại thành Hà Nội…

Công tác tổ chức cho các chuyến đi này tương đối đơn giản. Phương tiện di chuyển đến nơi thực tế do các bạn sinh viên tự túc (thường là xe đạp, xe máy hoặc xe buýt). Các giáo viên giảng dạy sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức và hướng dẫn chuyên môn cho sinh viên, tùy theo yêu cầu của môn học.

Cũng như các đợt thực địa, sau các buổi thực tế này, sinh viên sẽ hoàn thành các sản phẩm thực tế (theo yêu cầu của giáo viên). Các sản phẩm này sẽ được đánh giá và có thể trở thành điểm giữa kì cho sinh viên

3.3. Một số kiến nghị cho việc thực hiện quy trình thực tế cho sinh viên

3.3.1. Về phía Nhà trường và Khoa:

- Đề nghị nhà trường tạo điều kiện cho Khoa trong việc tổ chức các chuyến đi cũng như các buổi thực tế của sinh viên trong Khoa về kinh phí tổ chức cũng như về chế độ đối với các giáo viên hướng dẫn thực tế cho sinh viên. Hiện nay, kinh phí tổ chức các chuyến đi thực tế đều lấy từ kinh phí đào tạo thường xuyên của Khoa. Trong khi đó chi phí của các chuyến đi thường gấp nhiều lần phần Khoa có thể dành cho hạt động này. Do đó, mặc dù đã có sự đóng góp của sinh viên, rất nhiều hoạt động trong các chuyến đi thực tế như giao lưu, hội nghị, hội thảo… không được tiến hành do thiếu kinh phí. Thù lao và phần tính giờ cho các giáo viên hướng dẫn cũng rất ít ỏi, trong khi công tác chuẩn bị cũng như trực tiếp hướng dẫn sinh viên ngoài thực tế là rất vất vả.

- Về phía Khoa nên sắp xếp một thời gian hợp lý và thống nhất cho các chuyến đi thực tế: các chuyến đi nên được tổ chức vào nửa cuối của kì học, khi nề nếp học tập đã được ổn định, chương trình và kiến thức đã được đảm bảo tương đối và cũng không quá gần thời gian thi cuối kì. Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến các yếu tố khách quan khác khi lựa chọn thời gian (như thời tiết – khí hậu, chi phí cho chuyến đi…)

- Trong chương trình đào tạo chung của Khoa nên sắp xếp khoảng thời gian cho các đợt thực tế, để sinh viên có thời gian chuẩn bị (cả về kiến thức, kĩ năng và công tác tổ chức cho chuyến đi) cũng như thời gian hoàn thành và trình bày báo cáo thực tế của mình. Vì mỗi chuyến đi đều được tính 1 tín chỉ (hay 2 đơn vị học trình ) nên thời gian cho chuyến đi cũng phải được bố trí hợp lý.

3.3.2. Về phía các giáo viên

- Phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn trong công tác hướng dẫn và quản lý sinh viên trong các chuyến đi thực tế, để đảm bảo mục tiêu học tập và rèn luyện cho sinh viên.

- Giáo viên, đặc biệt là giáo viên bộ môn phải thiết kế, càng cụ thể càng tốt, những nội dung và thao tác sinh viên cần thực hiện và giám sát chặt chẽ các hoạt động này theo đúng yêu cầu, tránh tình trạng sinh viên chỉ coi đây là các chuyến đi chơi hay đi du lịch.

- Trong các chuyến đi, giáo viên cần pháy huy tính độc lập và chủ động của sinh viên, không nên lo lắng cho sinh viên quá nhiều, sẽ gây nên tâm lý ỷ lại và thụ động cho sinh viên.

3.3.3. Đối với sinh viên

- Các bạn sinh viên phải có một thái độ thực sự nghiêm túc trong các chuyến đi, nhận thức được đây là cơ hội để kiểm nghiệm, tiếp nhận thêm tri thức cũng như rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp chứ không chỉ là các chuyến đi chơi

- Các bạn phải tuân thủ các quy định và sự quản lý của giáo viên trong chuyến đi, đặc biệt đảm bảo an toàn cho cá nhân và cả đoàn đi

- Phải xây dựng một quy trình làm việc nghiêm túc với những hoạt động cụ thể cho cả chuyến đi, trong đó có cả hoạt động cá nhân, hoạt động theo nhóm và hoạt động tập thể. Phải có ý thức duy trì và phát triển tính thần đoàn kết tập thể, tránh tình trạng “chia bè kéo cánh” gây mất đoàn kết trong tập thể lớp.

4. Kết luận

Thực tế là hoạt động không thể thiếu được trong chương trình đào tạo của Khoa Việt Nam học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Để hoạt động này tiến hành có hiệu quả cần có những quy trình cụ thể. Trên đây tác giả chỉ đề xuất một số thao tác chung nhất cho quá trình thực tế của sinh viên, còn cụ thể với từng năm học, từng chuyên ngành, cần được sự thiết kế cụ thể hơn. Rất mong ý kiến đóng góp của các giáo viên và các chuyên gia để hoạt động thực tế của Khoa Việt Nam học thực sự quy củ và hữu ích đối với các sinh viên.

 

ThS Trần Thị Hồng Nhung
In bài Gửi bài cho bạn
Các tin đã đưa:
  • NHỮNG QUAN HỆ VÀ TÁC ĐỘNG GIỮA DU LỊCH VÀ CÁC NGÀNH KINH TẾ (11/06/2009)
  • Sắc “Đỏ” của Đường Lâm.. (29/05/2009)
  • TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI TỚI ĐẶC TRƯNG SẢN XUẤT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG (18/04/2009)
  • VẺ ĐẸP ĐƯỜNG LÂM (15/11/2008)
  • Thanh Hoá: Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường (23/10/2008)
  • BÌNH THUẬN: HƯỚNG ĐẾN NGÀY HỘI DU LỊCH VĂN HÓA THÂN THIỆN (22/10/2008)
  • Khai mạc Hội chợ Thương mại - Du lịch huyện Bắc Mê năm 2008 (21/10/2008)
  • SUỐI MỠ - ĐIỂM HẸN HẤP DẪN (15/10/2008)
  • KINH THÀNH VÀ LĂNG TẨM HUẾ (15/01/2008)
  • “PHỞ THÌN” SỐ 13 LÒ ĐÚC (15/01/2008)
  • Những trang thông tin liên quan đến bộ môn Địa - Du lịch (22/03/2007)
  • Một số địa chỉ cung cấp thông tin trong nghiên cứu Địa lý Việt Nam (05/11/2006)
  • ALBUM ẢNH 
    Chùa Thầy
     
     
    Lịch tập trung ôn thi hệ liên thông khóa 2
     
    ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG SỰ TRUYỀN BÁ CÔNG GIÁO VÀO VIỆT NAM VÀ PHILIPPIN


    Bản quyền thuộc Khoa Việt Nam Học
    Thiết kế và phát triển bởi C.I.S