Ngôn ngữ

Tìm kiếm

11/9/2010   
THÀNH LẬP KHOA VIỆT NAM HỌC - MỘT ĐỔI MỚI TƯ DUY  
(6/10/2006)

Trong suốt 50 năm thành lập (1951 – 2001), trường ĐHSPHN chỉ có một mục tiêu nhất quán là đào tạo giáo viên cho các trường phổ thông. Lúc đầu chỉ là trường trung học phổ thông (THPT), còn gọi là phổ thông cấp III. Sau đó trường lần lượt mở thêm các hệ đào tạo sư phạm khác nữa là Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, Giáo dục Thể chất, Giáo dục Đặc biệt…


Những hệ đào tạo mới đó đã thể hiện một bước đổi mới, linh hoạt hơn trong mục tiêu, chương trình đào tạo của trường và giải quyết vấn đề chuẩn hóa giáo viên ở các hệ thống trường phổ thông. Nhưng tất cả các hệ đào tạo đó đều thuôc ngành Sư phạm, chưa thể coi là trường đã đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Với tư cách là trường sư phạm hàng đầu trong cả nước, ĐHSPHN đến những năm cuối của thế kỉ trước vẫn chưa vượt được khỏi chính mình. Chỉ đến năm 1997, với xu hướng ngày càng phát triển và mở rộng của CNTT, tại khoa Toán của trường bắt đầu xuất hiện bộ môn CNTT (hiện nay là khoa CNTT). Bộ môn này làm nhiệm vụ dạy cho tất cả các khoa khác trong trường, đồng thời đào tạo sinh viên ngoài hê sư phạm. Đây là bộ môn đầu tiên nằm trong trường ĐHSPHN nhưng không thuộc hệ thống sư phạm.  Đây cũng là một bước thử khá rụt rè của nhà trường (chúng tôi nói rụt rè, bởi đến tháng 3 năm 2003 bộ môn CNTT mới trở thành khoa CNTT).

Trong suốt 50 năm thành lập (1951 – 2001), trường ĐHSPHN chỉ có một mục tiêu nhất quán là đào tạo giáo viên cho các trường phổ thông. Lúc đầu chỉ là trường trung học phổ thông (THPT), còn gọi là phổ thông cấp III. Sau đó trường lần lượt mở thêm các hệ đào tạo sư phạm khác nữa là Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, Giáo dục Thể chất, Giáo dục Đặc biệt… Những hệ đào tạo mới đó đã thể hiện một bước đổi mới, linh hoạt hơn trong mục tiêu, chương trình đào tạo của trường và giải quyết vấn đề chuẩn hóa giáo viên ở các hệ thống trường phổ thông. Nhưng tất cả các hệ đào tạo đó đều thuôc ngành Sư phạm, chưa thể coi là trường đã đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Với tư cách là trường sư phạm hàng đầu trong cả nước, ĐHSPHN đến những năm cuối của thế kỉ trước vẫn chưa vượt được khỏi chính mình. Chỉ đến năm 1997, với xu hướng ngày càng phát triển và mở rộng của CNTT, tại khoa Toán của trường bắt đầu xuất hiện bộ môn CNTT (hiện nay là khoa CNTT). Bộ môn này làm nhiệm vụ dạy cho tất cả các khoa khác trong trường, đồng thời đào tạo sinh viên ngoài hê sư phạm. Đây là bộ môn đầu tiên nằm trong trường ĐHSPHN nhưng không thuộc hệ thống sư phạm.  Đây cũng là một bước thử khá rụt rè của nhà trường (chúng tôi nói rụt rè, bởi đến tháng 3 năm 2003 bộ môn CNTT mới trở thành khoa CNTT).

Năm 1998, khi Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất được tổ chức, số lượng người tham dự đã đông gấp hai lần dự kiến, đặc biệt có đến gần 700 nhà nghiên cứu Việt Nam từ nhiều nước trên khắp thế giới đến dự. Điều đó thể hiện sự quan tâm lớn của cả VN và thế giới đến VN từ sau chiến tranh chống Mĩ, đặc biệt là từ sau quyết sách đổi mới mở cửa của VN. Nhìn thấy sự quan tâm của xã hội và xu thế phát triển của ngành học, từ sau đó, nhà trường đã bắt tay vào việc chuẩn bị mở mã ngành VNH.

Năm 2001, theo QĐ số 2986/QĐ-BGD&ĐT-ĐH ngày 18 tháng 5 của Bộ Giáo dục & Đào tạo, ngành Việt Nam học, ngành học ngoài sư phạm thứ hai chính thức được thành lập tại ĐHSPHN. Sự ra đời ngành Việt Nam học nhằm hòa nhập vào xu thế toàn cầu hóa, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, hiểu biết về đất nước, con người Việt Nam từ truyền thống đến đương đại của cả người VN và nước ngoài. Vì vậy, sau Quyết định thành lập mã ngành VNH của Bộ trưởng, nguyên Hiệu trưởng Đinh Quang Báo kí Quyết định số 1279/QĐ/ĐHSPHN-TCCB ngày 23 tháng 10 năm 2002, thành lập Ban VNH và giao cho PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà phụ trách Ban. Những người sáng lập ra ngành học này là PGS.TS Đặng Thị Lanh và PGS.TS. Trần Lê Bảo đều là giảng viên khoa Ngữ văn, ĐHSPHN. Vì vậy, Ban Việt Nam học còn trứng nước đã được đặt tại khoa Ngữ Văn của trường, trong sự hỗ trợ của các giáo sư, các thày cô giáo, các cán bộ quản lí của khoa Ngữ văn. Sự ra đời của ngành học, ngành nghiên cứu này đã đánh dấu nhận thức của xã hội, của các nhà quản lí về tầm quan trọngcủa ngành học, đồng thời đánh dấu sự nỗ lực rất lớn của những người sáng lập. Chúng tôi được biết, sau sự xuất hiện của ngành VNH tại trường ĐHSPHN năm 2002, năm học 2005 – 2006 có 16 trrường mở mã ngành đào tạo Việt Nam học, và năm học này (2006 – 2007) lại có thêm 20 trường nữa mở mã ngành học này. Điều đó càng chứng tỏ hướng mở ra đúng đắn, kịp thời và nhạy bén của ngành VNH tại trường ĐHSPHN.

Việt Nam học là ngành nghiên cứu có tính chất liên ngành. Trong khoa học xã hội, chúng tôi nhận thức rằng, ngoài những nghiên cứu chuyên sâu một chuyên ngành nào đó, thì hoạt động xã hội cụ thể bao giờ cũng cần kiến thức liên ngành ở mức độ cao. Các kiến thức đó không hề đào loại nhau, mà chúng càng hỗ trợ nhau để tạo nên nền tảng tri thức chắc chắn vững vàng hơn trong hoạt động xã hội. Người làm du lịch không thể không có nền tảng văn hóa, lịc sử, địa lí Việt Nam vững vàng; Người làm văn hóa lại càng cần hơn những tri thức lịch sử, văn học, kiến trúc, nghệ thuật; Còn những người làm công tác vận động quần chúng, công tác mặt trận cũng không thể không có hiểu biết nhiều mặt về khoa học xã hội – nhân văn của Việt Nam... Trước đây, chúng ta thường chỉ đào tạo chuyên ngành, nên những kiến thức liên ngành đều do mọi người tự học để bổ sung vào trong quá trình làm việc của mình, nhưng tất nhiên con đường tự bổ sung kiến thức sẽ dài và không hệ thống. Chính vì vậy, đào tạo liên ngành ngay từ trong trường đại học là cần thiết và đáp ứng tốt nhất nhu cầu liên ngành trong hoạt động thực tế. Ngành VNH chính là ngành đào tạo mang tính liên ngành đó.

Từ Bộ môn Việt Nam học, ngày 27 tháng 9 năm 2005 khoa Việt Nam học chính thức được thành lập. Đến nay khóa sinh viên đầu tiên của khoa với 61 sinh viên đã tốt nghiệp. Có thể nói, mở ra những ngành ngoài sư phạm như Việt Nam học ở ĐHSPHN là một bước quan trọng trong đổi mới tư duy đào tạo, vừa đáp ứng nhu cầu xã hội, vừa mở ra một cánh cửa mới rộng rãi, thông thoáng hơn trong mục tiêu đào tạo của trường. Đồng thời, chúng ta đã và đang tận dụng tốt nhất chất sám trí tuệ của đội ngũ các giáo sư, tiến sĩ khá phong phú và uyên bác đang làm việc tại trường. Sau việc thành lập khoa Việt Nam học, một số hệ đào tạo ngoài sư phạm đã tiếp tục được mở ra như hệ Cử nhân Lịch sử, Địa lí và cả Cử nhân Ngữ văn cũng đã có quyết định đào tạo. Đó là một hướng đi rộng mở của ĐHSPHN.

Hiện nay ở khoa VNH đang thực hiện ba hệ đào tạo:  đào tạo chính quy, đào tạo từ xa và đào tạo ngắn hạn và dài hạn cho người nước ngoài. Cũng như các khoa khác trong toàn trường, sinh viên VNH cần học 210 đơn vị học trình (đvht). Ngoài những môn chung, VNH có 5 phân môn chuyên ngành: Lịch sử: 25 đvht; Tiếng Việt: 25; Văn học: 24; Văn hóa: 25; Địa lí du lịch: 22. Trong mỗi phân môn là những môn học khá mới và hấp dẫn. Chẳng hạn, trong phân môn lịch sử có: thông sử Việt Nam (12 đvht), Lịch sử quân sự VN (3 đvht), Lịch sử đối ngoại VN (3 đvht), Lịch sử kinh tế VN (3 đvht), Lịch sử văn minh thế giới (4 đvht). Đào tạo người nước ngoài ở khoa VNH là một hoạt động có chương trình và kế hoạch cụ thể, là một trong những mũi nhọn trong hoạt động đào tạo của khoa. Từ khi thành lập, khoa luôn đón học viên từ một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mĩ, Thụy Sĩ, Séc… đến học. Trong năm học 2005 – 2006 khoa đã hoàn thành giáo trình điện tử dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Theo chúng tôi được biết thì đây là phần mềm dạy tiếng Việt đầu tiên trong các trường đại học phía Bắc được xây dựng xong và đưa vào giảng dạy.

Mục tiêu đào tạo của VNH là đẩy mạnh tính liên ngành, tăng cường tính thực hành trong hoạt động nghề nghiệp, tạo đầu ra hấp dẫn cho SV học ở ngành học này.

1. VNH đào tạo những nhà nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến Việt Nam, những nhà tư vấn có thể cung cấp những thông tin tương đối toàn diện, cụ thể về Việt Nam từ truyền thống đến đương đại cho các đối tượng có quan tâm. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể làm việc trong các cơ quan nghiên cứu văn hoá, các cơ quan tư vấn về Việt Nam, các công ty nước ngoài đang đầu tư ở Việt Nam...

2. VNH đào tạo những nhà hoạt động văn hoá, xã hội có hiểu biết rộng rãi, toàn diện về nhiều lĩnh vực của Việt Nam. Nhờ đó họ có thể vững vàng xử lí những công việc đòi hỏi phông kiến thức xã hội rộng. Sau khi tốt nghiệp, SV có thể làm việc trong các cơ sở Văn hoá tỉnh, phòng Văn hoá thông tin ở các địa phương, làm hướng dẫn viên trong các công ty du lịch và thiết kế các tour du lịch, làm phóng viên các báo, nhất là báo ngành (du lịch, văn hoá, kinh tế, đối ngoại).

3. VNH đào tạo liên ngành rộng nhưng cũng có hướng vào một số lĩnh vực chuyên sâu nhằm cung cấp những hiểu biết cơ bản về VN: Tiếng Việt, Lịch sử, Văn học, Văn hoá, Du lịch, Kinh tế - thương mại…Trên cơ sở đó, sinh viên ngành VNH sau khi tôt nghiệp đại học, có thể học thêm từ sáu tháng đến một năm về nghiệp vụ sư phạm và chuyên môn sâu để lấy văn bằng II về khoa học sư phạm, sau đó làm công tác giảng dạy về: Đất nước học, Sử học, Ngữ văn, Giáo dục công dân tại các trường chuyên nghiệp hoặc phổ thông.

Hiện nay khoa VNH có 5 tổ chuyên môn. Trong đó có 4 tổ bộ môn trực tiếp làm nhiệm vụ đào tạo và 1 tổ phục vụ đào tạo là Văn phòng - đối ngoại. Khoa có 04 PGS.TS; 01 TS; 09 thạc sĩ và 05 cử nhân. Bộ máy tham gia đào tạo và vận hành khoa là một bộ máy trẻ, sung sức và đầy sáng tạo.  Khoa đã và đang xây dựng và duy trì một nền nếp học tập, làm việc dân chủ và khoa học, nhằm góp phần tốt nhất vào công tác đào tạo cán bộ cho đất nước.

PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà
In bài Gửi bài cho bạn
Các tin đã đưa:
  • Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi (21/10/2008)
  • ALBUM ẢNH 
    Chùa Thầy
     
     
    Lịch tập trung ôn thi hệ liên thông khóa 2
     
    ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG SỰ TRUYỀN BÁ CÔNG GIÁO VÀO VIỆT NAM VÀ PHILIPPIN


    Bản quyền thuộc Khoa Việt Nam Học
    Thiết kế và phát triển bởi C.I.S