Các báo cáo tham dự hội nghị lần này phần lớn đã thể hiện sự nỗ lực, đầu tư của các tác giả trong cách thức thể hiện. Có nhiều báo cáo được trình bày khá công phu về hình thức, các chương mục, bảng biểu, số liệu, hình ảnh minh hoạ, thư mục tham khảo, phụ lục… thể hiện sự say mê và thái độ nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học như “Thổ Hà-làng quan họ thứ 50” (Nguyễn Thị Ái Vân, Nguyễn Thị Vân, Hoàng Cẩm Vân) hay “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch miền đất Tổ” (Nguyễn Thị Vân Anh), “Đền Cuông và lễ hội đền Cuông” (Đậu Thị Huyền) v.v…
Nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của mỗi sinh viên trên giảng đường đại học. Vì vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên khoa Việt Nam học luôn được chú trọng đầu tư và có sự phát triển đáng ghi nhận qua các năm. Từ hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ nhất năm học 2004-2005 đến nay, qua bốn kì hội nghị, đã có 200 báo cáo được gửi tới tham dự trong đó 09 báo cáo đã có tên trong Kỉ yếu Hội nghị cấp Trường và 01 báo cáo đạt giải Ba cấp Bộ.
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ Năm của khoa Việt Nam học đã được triển khai ngay từ đầu năm học 2008-2009. Hiện nay đã có 39 báo cáo tham dự trong đó số lượng báo cáo của khoá 55 là 2, khoá 56 là 10, khoá 57 là 17 và khoá 58 là 10. Tỉ lệ sinh viên tham gia viết báo cáo là 16,95%, cao hơn năm trước 1%. Trong đó, k56 mặc dù số lượng sinh viên ít nhất trong các khoá nhưng đã thể hiện vai trò đầu tàu của mình với tỉ lệ khá cao 28,5%. K57 đã gây bất ngờ trong kì hội nghị lần thứ Tư với 16 báo cáo dù mới là sinh viên năm thứ nhất, vẫn giữ vững được phong độ với tỉ lệ 29% trong kì hội nghị này. K58 tuy mới bắt đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học nhưng đã bắt đầu bộc lộ khả năng và sự mạnh dạn trong lĩnh vực này với tỉ lệ 16,3%. Đây là những nỗ lực rất đáng biểu dương. Tuy nhiên, đáng tiếc là sinh viên K55, với kiến thức và kinh nghiệm của gần bốn năm học cộng với kì thực tập vừa trải qua, được kì vọng khá nhiều nhưng lại chỉ gửi đến hội nghị 2 báo cáo. Đây cũng là một hiện tượng chung của các kì hội nghị trước. Rất mong trong các kì hội nghị tiếp theo hiện tượng này sẽ được khắc phục.
Trong tổng số 39 báo cáo, số lượng báo cáo thuộc chuyên ngành văn hoá chiếm tỉ lệ áp đảo (53,8%) tiếp đó là các chuyên ngành địa-du lịch 10 báo cáo, ngôn ngữ 3 báo cáo, lịch sử 3 báo cáo và văn học 2 báo cáo. Con số thống kê này khẳng định sự quan tâm của sinh viên đến một chuyên ngành mũi nhọn của ngành Việt Nam học là văn hóa đồng thời cũng cho thấy sự bật lên đáng kể của hai chuyên ngành là địa-du lịch và ngôn ngữ (trong năm trước chỉ có 2 báo cáo về địa-du lịch và 1 báo cáo về ngôn ngữ).
Sự lựa chọn đề tài của sinh viên, cũng như trong các hội nghị trước, hết sức đa dạng, phong phú. Có những đề tài rất mới mẻ, mang tính thời sự, cho thấy sự nhanh nhạy trong việc phát hiện vấn đề nghiên cứu của tác giả như “Bước đầu tìm hiểu xu hướng vận động của mô hình gia đình hạt nhân ở đô thị Việt Nam hiện nay”(Vũ Thị Thu Hà, Vũ Thị Như Quỳnh, Vũ Thị Cẩm Vân), hay “Sách Blog-sách của người Việt trẻ”(Nguyễn Thị Linh Thùy). Có những đề tài rất hấp dẫn, nếu được gia công nghiên cứu một cách công phu sẽ rất có triển vọng như: “Khảo sát giới tính nữ qua ca dao tình yêu đôi lứa người Việt” (Cao Thảo Hương) hay “Ý nghĩa biểu trưng của chiếc nón từ đời sống đến ca dao Việt Nam” (Trần Phương Thùy). Có những báo cáo đã chạm đến những vấn đề còn khá lạ với sinh viên VNH nhưng đã biết cách triển khai, giải quyết vấn đề một cách khá thuyết phục như “Im lặng trong tiểu thuyết “Cocktail cho tình yêu” của Trần Thu Trang” (Vũ Thùy Nhung).
Điểm đáng ghi nhận là các báo cáo tham dự hội nghị lần này đã tránh được hiện tượng mà các kì hội nghị trước mắc phải rất nhiều đó là chọn đề tài quá rộng, vượt quá thời gian và khả năng của tác giả. Các báo cáo năm nay đã tập trung chủ yếu vào các vấn đề vừa phải, phù hợp với năng lực người viết nhưng vẫn rất có ý nghĩa. Thậm chí có những báo cáo được trình bày như một bài viết chỉ khoảng 15-20 trang, không chia thành các chương mục nhưng vẫn trình bày và giải quyết được vấn đề đặt ra một cách tương đối mạch lạc, thấu đáo. Đây cũng là một cách nghiên cứu và trình bày quan điểm khoa học của cá nhân người viết. Rất mong điều này sẽ được phát huy trong những năm tới.
Hầu hết các báo cáo đều có ý thức xác định các phương pháp nghiên cứu cần thiết dựa trên đối tượng nghiên cứu cụ thể. Một số báo cáo đã sử dụng hiệu quả phương pháp điền dã, khảo sát, điều tra kết hợp với phân tích và tổng hợp tư liệu như “Bước đầu tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch xã Nghĩa Đô-huyện Bảo Yên-tỉnh Lào Cai” (Trần Thị Kim Hoa) hay “Bước đầu tìm hiểu xu hướng vận động của mô hình gia đình hạt nhân ở đô thị Việt Nam hiện nay”(Vũ Thị Thu Hà, Vũ Thị Như Quỳnh, Vũ Thị Cẩm Vân). Những phương pháp nghiên cứu này rất được khuyến khích, tránh hiện tượng một số báo cáo vẫn chỉ đơn thuần là sự phân tích, tổng hợp tư liệu sẵn có.
Các báo cáo tham dự hội nghị lần này phần lớn đã thể hiện sự nỗ lực, đầu tư của các tác giả trong cách thức thể hiện. Có nhiều báo cáo được trình bày khá công phu về hình thức, các chương mục, bảng biểu, số liệu, hình ảnh minh hoạ, thư mục tham khảo, phụ lục… thể hiện sự say mê và thái độ nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học như “Thổ Hà-làng quan họ thứ 50” (Nguyễn Thị Ái Vân, Nguyễn Thị Vân, Hoàng Cẩm Vân) hay “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch miền đất Tổ” (Nguyễn Thị Vân Anh), “Đền Cuông và lễ hội đền Cuông” (Đậu Thị Huyền) v.v… Bên cạnh đó, các vấn đề như lỗi diễn đạt, lỗi câu, lỗi chính tả, lỗi đánh máy trong hầu hết các báo cáo vẫn tồn tại.
Kì hội nghị năm nay còn cho thấy một sự thi đua, cạnh tranh lành mạnh rất đáng được khuyến khích giữa các khóa, các chi đoàn, các cá nhân. Đồng thời đây cũng là kì hội nghị có số nhóm tác giả nhiều nhất từ trước đến nay (9 báo cáo). Sự kết hợp làm nhóm này khá đa dạng: cùng chi đoàn, liên chi đoàn trong một khóa hoặc liên kết giữa hai khóa. Hình thức nghiên cứu này giúp sinh viên rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm và học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau.
Một hạn chế đã nhắc đến trong kì hội nghị trước nhưng vẫn lặp lại trong hội nghị này là phần tóm tắt báo cáo. Hầu hết các tác giả chỉ viết một bản tóm tắt qua loa, đối phó, nhiều khi không hề cho thấy tác giả đã làm được những gì trong công trình của mình. Thậm chí có một số tác giả đưa nguyên cả phần mục lục vào làm tóm tắt báo cáo.
Do đã rút kinh nghiệm từ kì hội nghị trước nên năm nay số lượng sinh viên đăng kí làm báo cáo nhưng sau đó không làm hoặc bỏ dở giữa chừng đã giảm đáng kể (tỉ lệ làm báo cáo so với đăng kí năm nay là 72% trong khi năm ngoái chỉ có 35%). Mặc dù vậy, hiện tượng này cần được hạn chế tối đa trong các năm sau.
Hiện tượng sinh viên tự ý ghi tên của giáo viên hướng dẫn vào báo cáo khi chưa được sự đồng ý của giáo viên đã được khắc phục so với năm ngoái nhưng vẫn còn tồn tại một vài trường hợp. Tuy nhiên nhiều sinh viên vẫn chưa chủ động liên hệ và chưa biết cách làm việc với giáo viên hướng dẫn trong quá trình làm báo cáo.
Trên đây là một số nhận xét tổng quát nhất về một vài phương diện cơ bản của các báo cáo khoa học gửi tới tham dự hội nghị cấp Khoa lần thứ Năm này. Điều đáng mừng là với 39 báo cáo, các sinh viên đã cho thấy lòng nhiệt tình, niềm say mê, hứng thú học tập và nghiên cứu khoa học, dẫu mới là bước đầu của các em. Mong rằng trong những năm tiếp theo, các em sẽ tiếp tục khắc phục những hạn chế và phát huy thật tốt những điểm mạnh của mình để có nhiều thành công hơn nữa trong khoa học. |