 | | Đình làng Mông Phụ, Đường Lâm, Hà Nội |
Chiều ngày 22/4/2009, thầy và trò khoa Việt Nam học lại có chuyến dã ngoại về Đường Lâm phục vụ sáng tạo tác phẩm báo chí của sinh viên K56. Đây là lần thứ 2 sinh viên khoa Việt Nam học hành trình về với vùng đất cổ - đất hai Vua song vẫn với không khí háo hức chờ đón sự khám phá mới và cũng là chờ đón những bài viết mới. Nhân dịp này, chúng tôi giới thiệu bài viết của Nguyễn Thị Bình, nguyên cựu sinh viên khóa 55.
Xuôi theo cao tốc Láng - Hoà Lạc, đến với thành phố Sơn Tây, đến với một nơi mà người dân trấn Sơn Tây xưa vô cùng tự hào: đất hai vua Đường Lâm. Đường Lâm có tên chữ Nôm là kẻ Mía, gồm nhiều làng như: Mông Phụ, Cam Giá, Đông Sàng… trong đó nổi bật nhất là làng Mông Phụ.
Tên làng Mông Phụ theo chữ Hán nghĩa là đồi thấp... Cũng có một số cụ đồ chiết tự hai chữ này như sau: Mông là lấy chữ đầu của gò Mông Sơn; Phụ là đồi Khúc Phụ - quê hương của Thánh Khổng Tử bên Trung Hoa. Ấy là việc giải nghĩa tên làng, còn thực tế, quả thực ngôi đình của làng nằm trên đỉnh một quả đồi thấp. Đình Mông Phụ là một ngôi đình lớn nằm trong hệ thống “đình Đoài”. Đình không có niên hạn cổ kính như đình Thuỵ Phiêu, nhiều giá trị nghệ thuật điêu khắc như đình Đông Viên, Tây Đằng... Song đình Mông Phụ có nét độc đáo trong kiến trúc, đó là sạp đình, một lối kiến trúc Việt - Mường đậm nét. Đình này được mở rộng, trùng tu qui mô vào mùa đông năm Kỷ Mùi niên hiệu Tự Đức. Có một điểm đặc biệt tế nhị trong lề lối kiến trúc cổ mà ít người để ý, đó là dù xuất phát ở điểm nào (hoặc đến hoặc đi) không bao giờ ta phải quay lưng lại một cách trực diện với hướng chính của đình. Trước cửa đình là một khoảng sân rộng, có thể dùng chữ ""mênh mông"" nếu ta đã một lần đến đó. Sân đình thực chất là một nút giao thông - ngã sáu xoè ra như nan quạt toả về các xóm: xóm Sui, xóm Xây, xóm Trung Hậu, xóm Sải, xóm Đình.
Sau bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, đến nay Đường Lâm còn lại duy nhất một chiếc cổng làng, ấy là cổng làng Mông Phụ. Cổng làng Mông Phụ đơn giản như bất cứ chiếc cổng của gia đình nào trong làng, chỉ duy nó mang kích thước của một cổng làng. Cổng án ngữ một cách cổ kính trên trục đường chính dẫn vào làng và được dựng theo lối cổ truyền. Phần mộc chọn theo mẫu tứ thiết: đinh, lim, sến, táu. Bốn cây cột cái đứng choãi chân trên những phiến đã xanh Đông Triều tròn vành vạnh như bốn chiếc cối đá đại đặt úp. Những chiếc hoành tròn được gác trên hai vì “chồng giường, kẻ truyền” tạo nên hai mái cân kiểu nhà tiền tế. Phần nề tường xây đá ong trần chít mạch, không “đao, đấu, diềm, mái”. Ngày ngày đóng mở chỉ là hai cánh gỗ lim “cánh dế” dày chừng bốn năm phân, nghiến trên hai cối cổng bằng đá và hai bánh xe gỗ bọc thép.. Qua khỏi cổng làng, lang thang trên những con đường làng rồi bất ngờ lạc vào một con ngõ sâu hun hút. Ở đó, một mình nghe tiếng bước chân mình rộn ràng trong từng ngõ nhỏ, những ngõ xóm với những tường đá ong sừng sững âm thầm đổ bóng mà thấy thời gian như ngưng trệ ở đất này. Mọi sự đổi thay của một thời tao loạn hình như không có ý nghĩa gì. Chỉ còn lại rêu phong trên những mảng tường đá ong dãi dầu cùng năm tháng. Đối với người con xa xứ, mỗi lần bước chân ra khỏi cổng làng còn ngoái đầu nhìn lại. Lịch sử của làng là một dòng chảy liên tục theo thời gian.
Làng Mông Phụ là một quần cư hình thành từ lâu đời, dân cư đông đúc, nhà cửa san sát kề nhau. Công việc dựng nhà hoàn toàn nhờ một thứ vật liệu địa phương độc đáo và rất đẹp - đá ong. Đá ong có ở mọi nơi, có chỗ sâu vài ba mét, có chỗ lưỡi đá lộ thiên trồi hẳn lên.Đá ong ở Đường Lâm sau khi khai thác ở lò về kích thước to lớn, hình thức thô nhám hoàn toàn không gia công lại mà cứ thế xếp chồng lên thành tường thành nhà. Có nhìn mới ngỡ ngàng thấy cái đẹp ấy quả là vô song, cái đẹp ấy bổ sung vào nội hàm cụm từ “làng Việt cổ”. Người xa quê lâu ngày mà sao nhung nhớ quá cái màu thổ hoàng của tường đá ong rực lên trong nắng chiều xứ Đoài...
Tại làng Mông Phụ, còn nhà thờ sứ thần Giang Văn Minh – nhà ngoại giao thao lược vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Được cử đi sứ Trung Quốc triều kiến nhà Minh, ông đã trổ tài đối đáp. Khi vua Minh ra vế đối nhắc lại truyền thuyết Mã Viện (thế kỷ 1 sau công nguyên) khi xâm chiếm Việt Nam có dựng cột đồng với lời nguyền (tạm dịch): Cột đồng gãy thì dân Giao Chỉ (tên gọi Việt Nam thời đó) diệt với câu: Đồng trụ chí kim, đài dĩ lục (Cột đồng đến nay rêu đã phủ xanh), ông khảng khái đối lại: Đằng giang tự cổ huyết do hồng (sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ) khiến vua Minh bừng bừng lửa giận quên mất thể diện thiên triều, sai mổ bụng ông xem gan to mật lớn đền độ nào, nhưng vẫn kính trọng ông nên đã cho ướp xác thuỷ ngân, đưa thi hài về nước. Vua Lê Thần Tông đã điếu ông (tạm dịch): Đi sứ chẳng làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng muôn thuở. Cách đó chừng vài trăm mét là chùa Mía (Sùng Nghiêm tự). Chùa được dựng trên quả đồi ở làng Đông Sàng từ xa xưa. Đến thế kỷ 17, chùa bị hoang phế, năm 1632, được bà Ngô Thị Ngọc Diệu (sau dân gian tôn là bà chúa Mía) – phi tần của chúa Trịnh Tráng, người trong làng, đứng ra quyên góp dựng lại chùa. Đến nay qua nhiều lần trùng tu, nhưng chùa vẫn giữ được dáng vẻ gần 400 năm trước. Bà chúa Mía còn cho mở chợ Chùa (họp ngay trước cửa chùa), bến đò Hà Tân - tạo giao lưu buôn bán, đình Đông Sàng. Bà được dân tạc tượng đưa vào thờ trong chùa và được lập phủ thờ riêng cách đó chừng 100 m. Tam quan tầng trên treo quả chuông đúc năm 1745 đời Lê, khánh đồng đúc năm 1846 đời Nguyễn. Cạnh đó là cây đa cổ thụ hàng trăm tuổi. Chùa được dựng bằng nhiều loại gỗ quí chạm khắc long, ly, quy, phượng, hoa lá cách điệu…Điểm đặc sắc của chùa Mía là ngôi chùa dựng kiểu nội cung ngoại quốc là sự đa dạng, phong phú của hệ thống tượng Phật với 287 pho tượng hiện còn, chưa kể những pho đã mất, đẹp nhất là hệ thống tượng Bát Bộ kim cương, Quan Âm Bồ Tát, trong đó đẹp nhất là Quan Âm Tổng Tử (Quan Âm Thị Kính). Tượng tạc một người phụ nữ, có nét mặt hiền hậu, hơi buồn, bế đứa trẻ, vạt áo che để lộ cổ cao thanh thoát và vòm ngực tinh khiết. Chùa được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng di tích đặc biệt quan trọng của Việt Nam, được các học giả nước ngoài đánh giá là ngôi chùa làng đẹp nhất Việt Nam.
Đến Đường Lâm vào thăm làng Việt cổ đá ong, lòng không khỏi cảm ph ục và tự hào về một nơi mà tên đất tên người đã đi vào tâm linh dân tộc. Ra khỏi cổng làng Mông Phụ mấy chữ đại tự còn in đậm trong lòng: "Thế hữu hưng ngơi đại" (thời nào cũng có người tài giỏi). Phải chăng đó là lời động viên, nhắn nhủ của tiền nhân với chúng ta hôm nay./. |